5 thg 1, 2013

Vài suy nghĩ về “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức


Vũ Ánh / 03-01-2012

Vài dòng về tác giả: Tên thật là Vũ Ánh, sinh năm 1941, còn có bút hiệu khác là Vũ Huy Thục. Trước năm 1975, từ 1964 phục vụ tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia đến sáng ngày 30-4-1975, với các chức vụ: phóng viên mặt trận 7 năm, rồi trưởng phòng Bình Luận, Chánh Sự Vụ Sở Thời sự Quốc tế và Quốc nội cho đến 10 giờ sáng 30-4-1975. Ngoài ra, tác giả còn cộng tác với các nhật báo Dân Ý, Báo Đen và Sóng Thần vào những năm chiến tranh.

Sau 30-4-1975, đi tù cải tạo dưới chế độ Cộng sản 13 năm, trong thời gian này bị nằm “chuồng cọp” mất 5 năm liên tiếp vì chống lại chế độ lao tù và ấn hành tờ Hợp Đoàn (báo chui trong trại giam). Được thả về gia đình với 5 năm quản chế, mưu sinh bằng lao động chân tay cho đến khi được định cư ở Mỹ theo diện HO năm 1992.

Sang Mỹ, tác giả trở lại nghề báo và truyền thông: Nhật báo Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo (TTK), Nhật Báo Người Việt (TTK và Chủ Bút), cộng tác với nhật báo Việt Herald. Đồng sáng lập đài Văn Nghệ Truyền Thanh (VNTT), Việt Nam California Radio (VNCR) và làm việc ở đó 10 năm, cộng tác với Đài Truyền Hình SBTN, hiện cộng tác với Tuần báo Sống, trong vai trò Cố vấn Biên tập.

Gặp Huy Đức nhân một bữa tiệc tại nhà một người bạn. Chúng tôi có trao đổi một vài câu chuyện. Đây là lần đầu tiên tôi gặp anh dù rằng trước đó tôi thường đọc những bài của anh trên blog Osin, có nội dung chỉ trích chế độ rất khéo léo và suy nghĩ sâu sắc. Huy Đức sang Mỹ theo một chương trình nghiên cứu của Đại học Harvard, một đại học hiện có khá nhiều sinh viên từ Việt Nam qua theo học. Câu chuyện trao đổi liên quan đến nội dung một tác phẩm, đó là “Bên Thắng Cuộc”. Tôi có nói với Huy Đức là đề tài mà anh đề cập tới rất tế nhị và anh sẽ phải đi dưới hai lằn đạn. Bởi vì viết những gì dù dựa trên sự thật mà bên thắng cuộc không thích, anh cũng sẽ “lãnh đủ” và viết ra những gì mà chỉ một số người bên thua cuộc không thích, anh cũng sẽ bị biểu tình và họ sẽ lôi gốc gác của anh ra mà xỉ vả. Lý do rất dễ hiểu: Kể cả bên thắng cuộc và bên thua cuộc đều vẫn còn nhiều người chỉ thích “uống nước đường” chứ không thích người nào nói sự thực hay chứng minh đó là sự thực.
Ít lâu sau tôi nhận được tập bản thảo “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức và tập bản thảo dù dầy đến 680 trang, tôi vẫn đọc một cách cẩn thận và có ghi chú. Tôi kết thúc trang cuối cùng vào đúng lúc Đài BBC đưa ra bản tin phản ứng của độc giả đối với “Bên Thắng Cuộc”, ủng hộ cũng như chỉ trích, phần lớn đều rất lịch sự. Tôi nghĩ chỉ cần phản ứng lịch sự là được rồi, dù phản ứng bao gồm cả những lời chỉ trích, bởi vì chỉ trích lịch sự, ôn tồn ở cái đất này giống như lá mùa thu.
Cảm tưởng của tôi đối với “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức: Lần đầu tiên tôi được đọc tác phẩm của một nhà báo trẻ trong nước viết với giọng văn bình thản, cố tránh những tĩnh từ vô ích, trích dẫn có cân bằng và đối chiếu thận trọng. Mặc dù nội dung tác phẩm còn nhiều khiếm khuyết khi Huy Đức viết về phần bên thua cuộc, nhưng ở vào thế hệ của anh không thể tránh những lỗi này được và điều này theo tôi cũng không có gì là “big deal” vì anh vẫn còn đầy đủ cơ hội hiệu đính lần xuất bản sau. Nhưng tại sao lại là “Bên Thắng Cuộc” mà không là “Bên Thắng Trận”? Nguyễn Giang, trưởng ban Việt ngữ của Đài BBC cũng đã có những thắc mắc này và tự lý giải nó bằng một tự nhủ:
“Khi đọc bản thảo ‘Bên Thắng Cuộc’ (cả hai tập), tôi băn khoăn không hiểu vì sao Huy Đức không đặt tựa cho sách là ‘Bên Thắng Trận’ với tất cả sự oai hùng, hào khí cách mạng như truyền thông chính thống vẫn nêu. Có phải trận chiến quân sự và ý thức hệ dù lớn lao đến đâu cũng chỉ là một cuộc cờ vì trận chiến vì tâm hồn và tương lại Việt Nam vẫn chưa chấm dứt?”.

Tôi cũng có những thắc mắc giống như ông Nguyễn Giang, nhưng tôi tự lý giải theo cách nhìn khác. Trong một trận banh, tỷ số các bàn thắng bại được ghi ngay trên bản và được dứt khoát quyết định, bên bị loại không thể thể giải thích “tại”, “bị” hay “do… mà tôi thua”. Nhưng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến rất phức tạp. Những người Cộng sản Miền Bắc tấn công Miền Nam Việt Nam trước và dưới cái nhãn “giải phóng và thống nhất đất nước”. Miền Nam Việt Nam chống trả dưới cái nhãn khác, đó là “tiền đồn của thế giới tự do”. Cả hai bên lao vào một cuộc huyết nhục tương tàn với súng đạn hai bên chẳng do người Việt Nam sản xuất. Chúng đến từ Nga, Tầu và Mỹ. Hai bên cứ thế mà lao đầu vào chém giết nhau, trong khi ở các bàn hội nghị quốc tế, những siêu cường thương lượng về ảnh hưởng của họ trên núi xương sông máu của nhân dân cả hai miền Nam Bắc. Đó là lý do tại sao những người thức tỉnh nhận ra “cuộc cờ” khốn nạn ấy mà những người nắm quyền lưc hiện nay ở Việt Nam không nhận ra? Huy Đức đã ghi ở trang đầu của cuốn sách một nhận định ngắn ngủi của Nguyễn Duy nhưng đầy ý nghĩa “Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh, bên nào thắng thì nhân dân cũng bại”. Tôi cho rằng những suy tưởng này chính là lý do khiến Huy Đức không dùng tựa đề bên thắng trận mà dùng tựa đề “Bên Thắng Cuộc”. Chỉ cần dùng tựa đề này, Huy Đức cũng đã can đảm rồi. Cậu bé chăn trâu ở một làng quê nghèo ở Hà Tĩnh ngày nào nay đã thành danh trong nghề nghiệp báo chí với cái tên blogger Osin đang cố gắng giữ sự tỉnh táo bằng cách học hỏi và nghiên cứu tại một trường đại học nổi danh ở Mỹ là trường Harvard. Cuộc nghiên cứu chỉ kéo đài có một năm thôi, nhưng tôi tin rằng ở ngôi trường vốn là mẫu mực cho nền tự trị đại học và suy nghĩ tự do ấy đủ để cho những người bảo thủ phải thay đổi suy nghĩ của mình hay ít ra là cũng làm mới lại suy nghĩ mà họ đã có từ trước.
Tôi muốn nhắc lại ở đây một điều đã quá cũ, nhưng vẫn cứ phải khẳng định đây là loại tác phẩm chính văn căn cứ vào những dữ kiện như cuốn “Bên Thắng Cuộc” một kiểu viết đòi hỏi phải có một phương pháp làm việc mang nhiều tính chất sử học chẳng hạn như việc lựa chọn dữ kiện, phỏng vấn những nhân chứng còn sống, sưu tầm những tài liệu của những nhân chứng đã chết, phân tích (chứ không phải bình luận) những tài liệu, văn kiện sưu tầm được, đi và nói chuyện với những nhân vật lịch sử có liên hệ hiện còn sống. Xét đến những điều kiện để thực hiện tác phẩm rõ ràng Huy Đức đã đáp ứng đầy đủ như anh đã trình bày trong Lời Nói Đầu và nội dung các chương của tác phẩm. Làm được đầy đủ công việc này, phải mất 10 năm là điều mà tôi tin rằng Huy Đức nói không ngoa.
Đọc một tác phẩm dầy như “Bên Thắng Cuộc” với biết bao nhiêu dữ kiện lịch sử, nhiều cuộc phỏng vấn, nói chuyện với những nhân vật, những nhân chứng lịch sử của cả hai bên, nhất là phần chú thích (nhất thiết phải đọc cả phần chú thích này, bởi vì nó cung cấp cho những luận đoán của người đọc nhiều chi tiết thú vị), người đọc phải mất rất nhiều thời giờ, ngoại trừ, những người vì nghề nghiệp cần phải đọc hết những trang sách trong thời gian ngắn nhất. Ví thử như Huy Đức viết “Bên Thắng Cuộc” chỉ để thỏa mãn nhu cầu chính trị ca ngợi chế độ thì không cần phải 3 năm để đọc tài liệu và 10 năm mới hoàn thành. Cho nên, việc tác giả dùng thời gian hơn một thập niên để viết “Bên Thắng Cuộc” là có lý do của nó. Huy Đức cần phải căn cứ vào cách làm của những nhà văn viết ký sự dựa theo dữ kiện lịch sử để bảo đảm tính “không dễ dãi với cách nhìn những gì đã từng xảy ra trên đất nước Việt Nam”. Đọc “Bên Thắng Cuộc” từ trang đầu đến trang cuối, người đọc có thể thấy nỗ lực của Huy Đức cố gắng không để cho tác phẩm của mình trở thành những ly nước đường cho cả bên thắng cuộc lẫn bên thua cuộc, dù những cố gắng của anh chỉ có giới hạn. Hãy đọc Huy Đức  viết trên trang Facebook lập ra cho cuốn sách:
“Tôi mong các nhà lãnh đạo hiện nay đọc Bên Thắng Cuộc cho dù họ đánh giá cuốn sách như thế nào. Nhận ra những sai lầm để ‘đưa dân tộc Việt Nam đi đúng con đường dân chủ, phát triển’ là mong ước của chúng ta. Nhưng tương lai dân tộc không thể chỉ trông cậy vào một cuốn sách hay chỉ trông cậy vào những nhà lãnh đạo ở bên thắng cuộc.”

Ý kiến mà tôi vừa trích dẫn chỉ là một phần nhỏ trong phần trả lời của tác giả đối với những phản ứng hay ý kiến của độc giả mà tác giả đặt tên là  “Không thể cứ trú ngụ trong sự sợ hãi”. Đài BBC ghi lại một câu hỏi khá quan trọng, đó là “liệu ông có sợ những điều không hay xảy ra với ông vì vi phạm các qui định của Đảng và Nhà Nước”, Huy Đức đã thẳng thừng:
“Tôi không nghĩ là mình nằm trong phạm vi điều chỉnh các qui định đó. Tôi ý thức được những việc gì mình đang làm. Sự thật không  chỉ giúp chúng ta tìm ra những phương thuốc đúng để chữa lành các vết thương cũ mà còn giúp những người đang nắm vận mệnh quốc gia không vi phạm những sai lầm mới. Không ai muốn hứng chịu những điều không hay nhưng nếu cứ trú ngụ trong sự sở hãi thì sự thật sẽ không bao giờ được nói ra, bạn ạ!”
Huy Đức có thể trình bày suy nghĩ của mình về đứa con tinh thần được kể là quan trọng của anh khi chính quyền mà anh đang sống với chưa có dấu hiệu gì muốn nhìn nhận những sự thật mà anh trình bày trong “Bên Thắng Cuộc” là vì những lý do như anh đã viết trên Facebook. Những đoạn trong tác phẩm mà tôi cho rằng quan trọng và người Việt ở hải ngoại nên đọc chính là những đoạn mà tác giả tổng hợp được cách nhìn về mọi phía và về các bên lâm chiến từ giai đoạn lực lượng Cộng Sản tiến vào Saigon và thời kỳ quân quản, hiệp thương thống nhất hai miền Nam Bắc.

Nhưng sau ngày 30-4-1975, thảm kịch diễn ra từ việc trả thù những sĩ quan công chức, cảnh sát VNCH cho tới việc đánh tư sản, tiêu diệt văn hóa văn nghệ tự do, qui kết loại trừ tư bản Tầu Chợ Lớn, cưỡng bức người dân thành phố đi kinh tế mới, cuộc chiến với Khmer Đỏ cùng với những nỗ lực được mệnh danh là “duy ý chí” nhằm áp đặt các mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa bao cấp trên cả nước với chế độ khẩu phần khắt khe đưa đến thảm họa nhân đạo và sự suy sụp kinh tế.
Nguyễn Giang, trưởng ban Việt ngữ đài BBC nhận định về  văn phong của Huy Đức trong các chương nói trên: “Ở các chương này, ngòi bút Huy Đức tỏa sáng trong giọng văn âm thầm, cố gắng giữ vẻ bình thản nhưng bên trong sôi sục, thậm chí có chỗ nghẹn đi vì những biến cố đau đớn cho hàng triệu người  mà anh chứng kiến cận cảnh, nhất là tâm thức một người đi bộ đội và từ Bắc vào Nam”.
Ngay từ những dòng đầu tiên, niềm đau ấy, tâm thức ấy được phản ảnh như dưới đây về một sự thực ở Miền Nam Việt Nam. Sự thực ấy khác những điều mà Huy Đức được dạy dỗ từ thuở thiếu thời:
“Nhưng hình ảnh Miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên Quốc lộ 1, bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi rất nhanh đu ra ngoài cánh cửa gần như trong một giây trước khi xe rú ga, vọt đi ngạo nghễ. Hàng chục năm sau tôi vẫn nhớ hai chữ chạy suốt bay bướm, sặc sỡ  sơn hai bên thành xe. Cho đến lúc ấy thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ. Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật đơn giản: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết (ra Bắc) vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe, buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn. Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh… được những bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp cho bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn là “Rừng thẳm tuyết dày”, “Thép đã tôi thế đấy”, những chiếc máy Akai, radio cassettes được những người hàng xóm tập kết mang ra giúp chúng tôi nhận ra người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ nhớ em, chứ không chỉ là ‘Đêm Trường Sơn nhớ Bác’. Có một miền Nam không giống như Miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”
Qua đoạn văn này trong Lời Nói Đầu, người ta thấy tác giả  tự tay chém vào thân người mình những vết thương sâu hoắm để tự cảm thấy một nỗi đau, nỗi đau không thảng thốt, nhưng nó sẽ cắn xé, gậm nhấm từ từ một con người còn tỉnh táo để nhận biết sự thật, để nhận biết là trong bao nhiêu lâu của tuổi xuân  mình chỉ được biết những gì không phải sự thật. Theo tôi, nỗi đau của Huy Đức cũng như hàng triệu người có cùng một cảm xúc như anh không khác gì nỗi đau đớn của hàng triệu người ở Miền Nam Việt Nam đã để mất cái phần đất mà chỉ sau 30-4-1975 họ mới có thể hoàn toàn thấu hiểu rằng so với Miền Bắc, nó thật là quí giá, đúng như lời cựu Tướng độc nhãn của Do Thái Moshe Dayan đã nhận định khi ông đến Saigon để viết một phúc trình cho tờ Israel Times rằng người Miền Nam Việt Nam phải biết thua Cộng sản thì mới có thể chiến thắng được họ. Theo tôi nỗi đau ấy không thể được làm thuyên giảm chỉ với những tập tài liệu “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập” hoặc “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” hay “Tâm Tư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu”, hoặc những cuốn hồi ký trong đó có một số tướng lãnh hay các sĩ quan cao cấp không ngại ngùng nói thẳng ra chuyện các ông bỏ đơn vị, bỏ lính của mình như thế nào để thoát ra nước ngoài trong cơn lốc nghiêng ngửa của Miền Nam. Những cuốn sách ấy không thể là những thắc mắc mà cho tới bây giờ vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát, đó là: “Một quân đội thiện chiến, quả cảm, chiến đấu không mệt mỏi trong một cuộc chiến dài và đẫm máu như thế, tại sao họ vẫn thất bại”?
Suy nghĩ của tôi cũng chỉ là cái cớ để nói tới cái bối cảnh ra đời của “Bên Thắng Cuộc”. Sống trong lòng chế độ ở Việt Nam mà đề cập tới những người thắng cuộc cũng đã là một điều khó khăn và đe dọa cho Huy Đức rồi, nhưng đề cập tới những người thuộc bên thua cuộc lại càng khó khăn, phức tạp và nhạy cảm hơn đối với một tác giả xuất thân từ phía thắng cuộc. Tôi xin trích dẫn lời kết luận của một trong những phản ứng chỉ trích của một cựu sĩ quan bên thua cuộc (VML) qua một e-mail được một bạn tù forward cho tôi: “Tác giả đã bỏ ba năm, ngồi đọc 126 quyển, rồi trích lấy 609 câu ghép lại thành từng chương mục thêm vào mấy lời cám ơn, thế là xong một tác phẩm vĩ đại! Tóm lại Bên Thắng Cuộc chỉ là một công trình đáng giá 3 xu hoàn thành từ một Cháu ngoan của Bác”. Tôi không ngạc nhiên về những lời phán này bởi vì trong 20 năm sống ở Mỹ, thói quen của một số người thuộc phía thua trận là bác bỏ và phủ nhận bất cứ một cuốn sách nào từ phía những người thắng trận, nhưng không may, họ lại không thể trưng ra được một tác phẩm nào của họ để đối chiếu. Andrew Wiest khi viết cuốn “Vietnam‘s Army Forgotten” đã có một thư mục sách ông tham khảo dài, những cuộc phỏng vấn và mất cả 3 năm trời để tìm cách phỏng vấn người anh hùng trong quân đội VNCH Trần Ngọc Huế và cả người mà ông cho rằng một nửa giai đoạn chiến tranh là anh hùng nhưng cuối cuộc chiến trở thành người phản bội, Phạm Văn Đính. Larry Berman cũng đã mất khoảng 10 năm trời, dùng số sách tham khảo nhiều hơn Huy Đức và nhất là tìm cách phỏng vấn cho được tình báo viên Phạm Xuân Ẩn trước khi ông ta qua đời để viết cuốn “Perfect Spy”. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ khi viết cuốn “Argument Without End” cũng đã phải vùi đầu vào một núi tài liệu trong văn khố quốc gia Mỹ, rồi phải vận động để được phép thu thập cái kho tài liệu về chiến tranh Việt Nam của Hà Nội mà trước đó không một tác giả Mỹ nào xâm nhập vào được, tổ chức các buổi hội thảo tốn kém để đối thoại với các cựu tướng lãnh và giới chức quân sự chính trị cao cấp từng đối đầu với Hoa Kỳ trong chiến tranh, gặp gỡ riêng tư những người cầm chịch trong cuộc chiến Việt Nam cả về phía Mỹ, Việt Nam và VNCH. Ấy vậy mà trong buổi giới thiệu sách ở New York, tác giả vẫn còn xin lỗi vì những tham khảo chưa trọn vẹn. Có thể có nhiều người không thích những tác phẩm trên của các tác giả Mỹ với nhiều lý do khác nhau, nhưng bảo chúng là ba xu hay vô giá trị, tôi thấy chưa ai dám hạ bút như vậy. Một phản ứng khác từ Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh viết trên Facebook, vốn là con của một viên chức cao cấp của VNCH, về cuốn “Bên Thắng Cuộc”, xin trích:
“Không ai trong chúng tôi lại có thể ngờ có ngày những ký ức và sự kiện lịch sử ấy lại được một người từ bên thắng cuộc viết ra. Những dòng chữ trong cuốn sách của Huy Đức được tác giả viết bằng giọng văn bình thản, khách quan chẳng thấm vào đâu so với những ký ức đầy cảm xúc của chúng tôi, những người phải trải nghiệm thực sự những thí nghiệm của chế độ mới với những người anh em thua cuộc của họ… Những thông tin trong cuốn sách không làm tôi xúc động-vì chắc chắn những chi tiết mà tôi có thể kể ra từ kinh nghiệm cá nhân còn lâm ly và kỳ bí hơn nhiều – mà chỉ làm cho tôi thắc mắc không biết đến bao giờ người anh em thắng cuộc  mới thực sự hiểu đầy đủ những người thua cuộc và ý thức rõ những điều phi nghĩa phi nhân mà họ đã làm đối với người anh em kém may mắn của họ”.
Tiến sĩ Phương Anh cũng nói “chính quyền hiện nay không chân thành nhận lỗi thì sẽ không bao giờ có hòa giải thực sự”. Một nhân vật lịch sử cổ đại là Vua Trần Nhân Tôn, một vị vua nhân đức và một tấm lòng mở rộng như Phật sống, tha tội cho tất cả quan quân đã từng cộng tác với giặc Phương Bắc với để hàn gắn, hòa giải dân Việt có phải nhận lỗi với phe thua cuộc? Lịch sử cận đại của cuộc chiến tranh Nam-Bắc Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln khi chiến thắng Nam quân sau trận Gettysburg đã ra lệnh cho tướng Grant phải đứng ra để chào kính viên tướng Nam quân lên ngựa sau khi họ đã ký vào văn bản đầu hàng của Nam quân. Nhưng để hàn gắn, Tổng Thống Abraham Lincoln không phải ra lời xin lỗi Nam quân vì thực sự chiến thắng của Bắc Quân không phải là lỗi của ông. Nhưng hành động cấm tất cả binh lính dưới quyền Tổng Tư Lệnh Abraham Lincoln không được truy bức những cựu thù là một cách hàn gắn rất thông minh và văn minh khi bên chiến thắng chìa bàn tay ra trước. Và chung quanh các cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ tổ chức rất long trọng những ngày gọi là Quốc Hận, nhưng đã có ai trong số những người lãnh đạo quân sự và chính trị còn sống ở đây dám đứng ra nhận lỗi với chính những người thua cuộc và dân chúng còn ủng hộ bên thua cuộc dù đã để mất miền Nam Việt Nam không, hay họ vẫn cứ vẫn dễ dãi đổ tất cả tội lỗi cho Mỹ và Dương Văn Minh?
Cho nên, sau 37 năm Hà Nội chưa bị đe dọa bởi những chống đối trong nước hay tại hải ngoại thì mơ ước của Tiến sĩ Phương Anh vẫn chỉ là một giấc mơ đẹp nhưng không bao giờ thành hiện thực. Bởi một điều: Khó có thể đổ lỗi cho bên chiến thắng khi cuộc chiến đã bị quốc tế hóa thành ý thức hệ của hai khối Cộng Sản và Tư Bản. Trong một trận banh, bên nào lừa banh được thì bên đó dễ dàng xuyên thủng lưới đối phương. Bên thua khó lòng viện dẫn lý do là bên kia quỷ quyệt, chơi xấu nên mới thắng. Có phải do thế mà bên chiến thắng phải xin lỗi thì các khán giả ủng hộ hai bên trong trận banh từng chia rẽ nay mới có thể bắt tay đi uống bia với nhau được? Làm gì có chuyện đó, thưa Tiến sĩ Phương Anh? Tỷ số bàn thắng thua trong một trận đá banh hay bóng rổ vẫn là những con số lạnh lẽo, nhưng đáng buồn là nó xác định được thứ ưu thế cũng lạnh lẽo không kém của bên thắng trận. Làm sao có ai trả lời được câu hỏi nếu như Miền Nam là bên thắng cuộc thì liệu sự trả thù có diễn ra với bên thua cuộc là miền Bắc hay không?

Nay có một người như tác giả “Bên Thắng Cuộc” nói tới những xúc cảm của chính mình khi viết một tác phẩm về thắng, thua trên bàn cờ chính trị và quân sự Việt Nam, tôi nghĩ đó là một điều đáng quí. Văn phong bình thản và ôn tồn của một người viết xuất thân từ xã hội Cộng sản cho thấy đây là một yếu tố rất quan trọng của một tác giả còn dính líu nhiều đến quá khứ của các phe lâm chiến trong một cuộc chiến không vinh hạnh gì cho đất nước Việt Nam. Càng bình thản và ôn tồn sự trình bày của mình càng thuyết phục. Càng gồng mình, càng dao to búa lớn, càng biểu lộ cảm tính đối với những vấn đề nay đã trở thành lịch sử thì càng thiếu thuyết phục và trong nhiều trường hợp lộ cho người khác thấy cái non nớt ấu trĩ của mình.
Khi viết về bên thua cuộc, Huy Đức còn nhiều thiếu sót nhất là những chương nói về tù cải tạo và cuộc vượt biển của hàng triệu người Việt Nam (cho tới nay không có con số ước lượng gần sự thật). Nhưng tôi vẫn nghĩ ở thế hệ của Huy Đức (thế hệ 1.5), anh không thể hiểu hết những gì diễn ra trong hai tấn bi kịch đầy thương tổn trong lịch sử cận đại hậu chiến tranh Việt Nam. Hơn nữa, nội dung cuốn sách chỉ mô tả lại hình ảnh về những sai lầm của bên thắng cuộc, kể cả sai lầm đối với bên thua cuộc. Ngay cả người Việt Nam thuộc thế hệ 1.0, 1.5 và 2.0 hiện nay ở Mỹ có người còn không hiểu hết những gì cha anh họ từng phải trải qua trong các trại cải tạo hay trên đường vượt biển, huống chi một nhà báo trẻ như Huy Đức sinh ra và lớn lên trong môi trường xã hội chủ nghĩa và chỉ khi vào Nam mới biết rằng có một Miền Nam không giống như sách giáo khoa miền Bắc đã dạy anh. Cho nên chỉ cần Huy Đức viết về những bi kịch nói trên của bên thua cuộc không giống như lời lẽ của Phan Xuân Huy, một cựu dân biểu dưới chế độ VNCH mà anh trích dẫn trong sách là tôi đã có thể gọi anh là một nhà báo còn giữ được nhân cách và còn tỉnh táo trong suy nghĩ giữa một xã hội mà lòng người ngày càng tao loạn, và những người quản trị đất nước ngày càng khắt khe đối với những ý tưởng độc lập.
Cái oái oăm của lịch sử cũng vẫn theo đuổi những người Việt Nam đã bỏ nước ra đi và nhận nơi này làm quê hương thứ hai của họ. Người Việt Nam ở quận Cam hình thành một cộng đồng từ ngày những bước chân còn bàng hoàng của họ từ các trại tị nạn đặt xuống đây. Cộng đồng này sống giữa một đất nước nơi mà quyền tự do ngôn luận được thiết đã từ lâu và rộng thênh thang. Ấy vậy mà từ 37 năm qua, người dân ở đây cho biết chưa bao giờ họ được nhìn thấy hay được nghe những lời lẽ ôn tồn, lịch sự trong các cuộc thảo luận những vấn đề nhậy cảm. Người ta chỉ thấy diễn ra những lời cuồng nộ và nhục mạ những người có những suy nghĩ khác suy nghĩ của vài cá nhân hay phe nhóm ở đây. Người Mỹ gốc Việt ở quận Cam nói riêng ngày nay thấy một số cá nhân hoạt động chính trị trong cộng đồng bỗng trở thành những “ông biện lý” hay “quan tòa” chỉ biết “phán” mà không hề biết lắng nghe. Họ động dao, động thớt bằng những lời lăng mạ trước, dọa biểu tình sau và cuối cùng bơi móc đời tư của “đối thủ” trên một vài cơ quan truyền thông Việt ngữ. Trong bối cảnh này còn diễn ra một số những hành động ngược ngạo khác: có một vài tờ báo hay cơ quan truyền thông có những bài viết bị kết án là thân Cộng thì chẳng ai làm gì họ được, nhưng ngược lại có những cơ quan truyền thông hay báo chí khác cũng bị cáo buộc tương tự thì bị làm tình làm tội. Chính nghĩa nào cho những người cứ mở miệng ra là nói mình phục vụ cộng đồng hay chống Cộng trong khi chỉ đi làm chuyện tào lao này vậy? Chưa hết, còn một vài nghịch lý nữa: trong một vài buổi ra mắt sách ở đây, có những nhà “phê bình” lên diễn đàn thú nhận chưa đọc tác phẩm của người ta mà vẫn tiếp tục khen lấy khen để chỉ vì tác giả thuộc “phe ta”. Ngược ngạo này sinh ra ngược ngạo khác. Có một thời kỳ, nhiều nhà hoạt động ở Little Saigon này coi Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Tiêu Dao Bảo Cự,  Hà Sĩ Phu là khuôn vàng thước ngọc cho công cuộc chống Cộng nhưng cũng lại chính những người đó nay buông ra những lời lẽ thiếu lịch sự với Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần và thậm chí cả Vũ Thư Hiên.
Vì thế, tác phẩm của Huy Đức, ngoài những lời phê bình nghiêm túc, đứng đắn cũng đã nhận được một số phản ứng đại loại như “Việt cộng con”, “răng hô”, “cháu ngoan của Bác”, “ve vãn người quốc gia”, “lộng giả thành chân”, “Bên Thắng Cuộc chỉ đáng gia ba xu” cũng là chuyện thường tình. Trong cơn cuồng nộ của một nhóm người, những cảm tính này rất dễ diễn tả, rất dễ buột ra khỏi cửa miệng, nhưng để có những bằng chứng đi kèm cho thuyết phục thì thật là khó khăn vô cùng vì nó cũng buộc những người phản bác cũng phải dùng một thời gian nghiên cứu lâu ít nhất cũng lâu bằng thời gian tác giả Huy Đức thai nghén “Bên Thắng Cuộc”.
Cho nên, theo tôi, khen, chê, phủ nhận, bác bỏ là quyền đánh giá của người đọc trên một đất nước tự do. Không ai có quyền ngồi lên trên sự tự do đó được. Như thế rõ ràng, người đọc có quyền rộng rãi để lựa chọn một thái độ thì không lý do gì một người nào đó lại cần phải dùng những lời lẽ thô bạo để phê phán một tác phẩm được viết ra bằng một văn phong thầm lặng như trong “Bên Thắng Cuộc”. Trong tinh thần suy nghĩ của một người tự do, tôi đọc “Bên Thắng Cuộc” gần một tháng mới xong và giữ một nhận định riêng cho mình đối với toàn bộ tác phẩm. Bài viết này được viết để chia sẻ với bạn đọc vào ngày cuối cùng của năm 2012 mới chỉ đề cập tới phần bên thua cuộc trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”. Những phần khác, tôi sẽ đưa ra vào những số báo của năm 2013. (V.A)

Nguồn: Sống Magazine

Năm Mới chúc nhau


Tú Bì
(Phóng tác theo bài Năm mới chúc nhau của Cụ Tú Xương)

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Chúc nhau câu kết tập đoàn sâu
Phen này ăn hết phần dân chúng
Mà diệt thì lo chuyện oán cừu!

Lặng lặng mà nghe nó chúc ăn
Đứa thì ăn đất, đứa ăn quan
Có thằng kiên quyết không từ chức
Mặt thớt, mặt mo cũng cố làm!

Nó lại mừng nhau cái sự giàu
Đô la, vàng bạc để vào đâu ?
Thôi thì mang tuốt sang Thụy Sĩ
Tài khoản phòng khi gió đổi màu!

Nó lại mừng nhau cái sự dê
Già rồi thấy gái vẫn còn mê
Chúc nhau răng chắc như là ấy
Lý tưởng, nhân luân lộn tứ bề!

Nó lại mừng nhau sự độc quyền
Quyền sinh, quyền sát sướng hơn tiên
Đứa nào thắc mắc cho vào rọ
Vào rọ là xong đỡ phải phiền!

Cọp từ Sơn-Thi-Thư blog.

Khảo dị:

     Lẳng lặng mà nghe chúng khuyên nhau
    Cố kiếm chức quan để làm giàu
    Nay bỏ tiền mua mai bán lại
    Vốn một lãi mười chớ lo âu!

    Lẳng lặng mà nghe chúng bảo nhau
    Chơi sao cho quỷ khốc thần sầu
    Tậu hẳn ô tô hàng chục tỷ
    Biệt thự vài ngôi, phố mấy lầu.

    Lẳng lặng mà nghe chúng dặn nhau
    Trăm ngàn vạn mớ giấu ở đâu?
    Bí mật chia năm rồi sẻ bảy,
    Đem đi mà gửi khắp Á -Âu.

    Lẳng lặng mà nghe chúng dạy nhau
    Tiền dân tiền nước khoét cho mau
    Ăn xong nhớ phải chùi mép kĩ
    Không thì "bóc lich" đến bạc râu!

    HOA MAI Blog tiengviet.net
    15:52 Ngày 02 tháng 1 năm 2013

2 thg 1, 2013

'Mùa xuân Ả rập' và Mùa xuân Myanmar


Tác giả: Hồng Ngọc
Bài đã được xuất bản: 02/01/2013 trên tuanvietnam.net

Cùng thuộc về một làn sóng dân chủ hóa trên thế giới, nhưng "Mùa xuân Ả rập" để lại những vết thương sâu sắc chưa hứa hẹn ngày lành, thì Mùa xuân Myanmar cũng chính là quá trình làm lành vết thương của thời kỳ độc tài.

Mùa xuân bão táp ở Ả rập

Một loạt chế độ tại Ả rập - từng ưỡn ngực với sự "đặc thù" của văn hóa Hồi giáo mà từ chối nền dân chủ - đã đồng loạt đi đến hồi kết. Tất cả được châm mồi với chỉ một đốm lửa ở Tunisia hai năm trước.

...Trong Mùa xuân Ả rập, cựu Tổng thống Yemen Ali Saleh đã ra đi theo một cách êm ả nhất có thể: ông từ chức sau 33 năm cầm quyền và sang Mỹ đổi lại quyền miễn tố, để lại một Yemen kiệt quệ và đối mặt với các cuộc nổi dậy và nội chiến.

Hầu hết trong số đó đều tiếp tục nhiệm kỳ của mình sau các cuộc "bầu cử" không có ứng cử viên đối lập và chiến thắng với tỷ lệ phiếu bầu cực cao. Nhưng sự "tín nhiệm cao" đó không che giấu được những vấn đề trầm trọng của dân chúng và khối tài sản kếch xù của những nhà cầm quyền.

Và những cuộc nổi dậy của "Mùa xuân Ả rập" đã lột tả bản chất của sự "tín nhiệm cao" chính là sự sợ hãi của dân chúng, chứ không phải vì đó là chính quyền của nhân dân như các nhà độc tài vẫn tự xưng.

Nhưng sự cai trị bằng nỗi sợ hãi của dân chúng cũng tạo ra sự căm phẫn âm ỉ, và nó sẽ bùng lên khi tích tụ đủ mạnh và có một mồi lửa ném vào.

Cái giá mà đất nước họ phải trả còn lớn hơn thế. Là sự kiệt quệ của dân chúng do sự bòn rút của họ. Là sự hèn đụt và tính thụ động của dân chúng do sự đe dọa của họ. Là sự khủng hoảng lòng tin và đạo đức của dân chúng, do sự cai trị vô đạo đức và chia rẽ dân chúng của họ. Và cuộc nổi dậy như một vết thương được làm loét thêm, do tâm lý trả thù không chỉ nhằm vào nhà độc tài mà còn hướng cả vào những người từng tham gia hệ thống ấy, và những người được lợi nhờ hệ thống ấy, tạo ra một xã hội bị chia rẽ.

Mùa xuân ấm áp với Myanmar

Myanmar, giành độc lập năm 1948, bị hết thống tướng này đến thống tướng khác cai trị sau cuộc đảo chính quân sự năm 1962. Trong ngôn ngữ của chính trị học, đó là chế độ Qủa đầu (độc tài nhóm), một hình thức tinh vi hơn của độc tài cá nhân.

Dù tinh vi tới đâu thì bản chất của mọi chế độ độc tài đều là cai trị đất nước để phục vụ cho quyền lợi của những kẻ cai trị, thay vì để phụng sự nhân dân và đất nước. Đó là nguyên nhân Myanmar từ vị thế là một đất nước phát triển hàng đầu châu Á đầu thập kỷ 1960 đã tụt hậu và kiệt quệ thành một nước lạc hậu nhất ở Đông Nam Á những năm qua.

Đứng trước nguy cơ bị lệ thuộc vào cường quốc láng giềng, giới lãnh đạo Myanmar đã có những thay đổi kịp thời và ngoạn mục.

Cuộc bầu cử dân sự năm 2010 tưởng như chỉ là mang tính hình thức để hợp thức hóa sự cai trị của những tướng lĩnh cũ, mà Tổng thống được bầu vào Mùa xuân 2011 Thein Sein nằm trong số này. Lần đầu tiên nắm quyền cao nhất ở Myanmar, vị tướng cũ đã từ bỏ đường lối cai trị độc tài, bằng cách chấm dứt những dự án của cường quốc láng giềng gây nguy hại cho Myanmar, công nhận đảng đối lập và tổ chức cuộc bầu cử bổ sung tự do vào Mùa xuân 2012, phóng thích hàng loạt tù nhân lương tâm, và cho phép tự do báo chí.

Myanmar còn có một nhân vật vĩ đại nữa làm biểu tượng cho quá trình dân chủ hóa: Aung San Suu Kyi, người đã để lại gia đình của mình ở nước Anh để trở về nước vận động dân chủ năm 1988 bất chấp bị đàn áp, đe dọa, bắt bớ, cấm tranh cử, rồi bị giam lỏng trong thời gian bầu cử năm 1990. Kết quả: bà chiến thắng áp đảo cùng Đảng của mình (82% số phiếu) nhưng bị từ chối chuyển giao quyền lực và tiếp tục bị giam lỏng, và bà từ chối rời khỏi đất nước để tiếp tục cuộc đấu tranh cho dân chủ. Ngày đó đã đến như mong mỏi của bà và nhân dân Myanmar, cho dù Đảng của bà chỉ tranh cử ở cuộc bầu cử bổ sung 45/664 ghế.

Một người từ bỏ quyền lực độc tài để đưa đất nước đến với dân chủ, và ca ngợi đối thủ từng bị phe mình giam giữ. Một người đã chiến thắng trong cuộc bầu cử dân chủ nhưng chấp nhận sự cai trị của chính phe phái từng tước đoạt quyền lực của mình, thậm chí vận động quốc tế xóa bỏ cấm vận với chính quyền đương nhiệm, để tìm kiếm sự khởi đầu mới cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Qúa trình dân chủ hóa của Myanmar, nhờ vậy, đồng thời là quá trình hòa giải dân tộc, giúp Myanmar không chỉ giữ được hòa bình mà còn giảm nguy cơ bị chia rẽ.

Đó là lý do cả hai được xếp hàng đầu trong danh sách 100 nhà tư tưởng của thế giới năm 2012 do Tạp chí Foreign Policy (Mỹ) lựa chọn. Riêng Thein Sein được tờ Straits Time (Singapore) bình chọn là Nhân vật châu Á của năm 2012. Vì từ bỏ độc tài quyền lực để trả quyền lực về cho nhân dân luôn là lựa chọn vô cùng khó khăn của mọi chế độ độc tài trong lịch sử.

Nhưng đó là lối thoát duy nhất cho một quốc gia muốn phát triển, và ngay lập tức đầu tư nước ngoài đã xếp hàng vào Myanmar. Và cũng là lối thoát duy nhất cho nhà độc tài để tránh bị xét xử hay bị giết hại khi dân chúng nổi dậy và trả thù, như đã diễn ra với "Mùa xuân Ả rập".

Ba ngàn năm trước, nhà tư tưởng chính trị Khương Tử Nha đã thấu hiểu điều đó khi nhắc nhở Chu Văn Vương rằng: Thiên hạ không của riêng ai, thiên hạ là của cả thiên hạ, chung lợi ích với thiên hạ thì được thiên hạ, đoạt lợi ích của thiên hạ thì mất thiên hạ. Nhờ tư tưởng đó, nhà Chu tồn tại tới tám trăm năm, và là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất về tư tưởng, triết học, binh pháp, kỹ thuật của Trung Quốc cổ và trung đại.

Ngày nay, không cần phải thông thái như Khương Tử Nha cũng biết điều đó. Quá nửa quốc gia trên thế giới là những nền dân chủ, thể chế buộc chính quyền phải chung lợi ích với thiên hạ, thay vì chờ đợi chính quyền tự nguyện như triều đại nhà Chu. Nhờ thế, những quốc gia thịnh vượng nhất, văn minh nhất đều là những nền dân chủ.

1 thg 1, 2013

Tin buồn

    Được sự đồng ý của bạn Nguyễn Quang Thạch, Gia đình và BQT (blogk14) vô cùng thương tiếc báo tin: 
   Mẫu Thân bạn Nguyễn Quang Thạch, cựu SV lớp Bán dẫn 69, do tuổi cao sức yếu đã từ trần hồi 03 giờ 45 phút sáng nay (1/1/2013), hưởng thọ 92 tuổi.
   Xin dâng lời cầu nguyện linh hồn Cụ thanh thản về cõi vĩnh hằng!
  K14vt sẽ tập trung dLễ Viếng Cụ vào hồi 14 giờ ngày 03/1/2013 tại nhà tang lễ Phùng Hưng (Hà Nội).
    Kính báo!

Như một lời chia tay... Năm cũ


Thôi băn khoăn về quan này, quan nọ
Hoàng tử nhà nòi, công chúa kiêu xa.
Thôi lý luận khách quan, biện chứng
Về nhóm bếp lên cho ấm nếp nhà.

Không để ý chuyện côn trùng, sâu bọ
Cả tập đoàn hay đại dịch cũng mặc ai
Không cần biết bộ phận nào không nhỏ
Cứ vô tư ngày ba bữa ta xài!

Không nhìn nữa biển Đông dậy sóng
Lũ diều hâu từng phút trực chờ
Mọi việc rồi sẽ có người lo tất cả ?
Ta lặn vào mộng đẹp trong mơ !

Quên đi chuyện tướng này, tá nọ
Mặc họ cho thiên hạ luận bình
Không đọc nữa những tin người oan khốc
Phải cởi truồng, hay vất vưởng, quyên sinh!

Không xem nữa tin quan no thịt
Trẻ em nghèo nước suối chan cơm
Không xem ảnh những tượng đài hoành tráng
Món nợ dân nghèo ngày một nặng thêm!

Ta về với cuộc đời rất thực
Chuyện đúng sai đâu biết mà lần
Mũ ni che tai, băng đen bịt mắt
Để mong cầu hai chữ bình yên!


Cọp từ Sơn-Thi-Thư Blog

Chúc mừng Năm mới


Xuân đã về đây, Xuân đến nơi
Chúc mừng anh chị mãi yêu đời
Tình thân tươi thắm Xuân thêm sắc
Hạnh phúc An vui vọng tiếng cười
Văn Võ

30 thg 12, 2012

Vụ án Đoàn Văn Vươn- sự trả thù thấp hèn!



MINH DIỆN

Đêm qua, khuya lắm, chuông điện thoại của tôi bỗng reo. Tôi không quen biết người gọi mình. Anh ấy tự giới thiệu tên là Hưng ở xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng (Hải Phòng).


29 thg 12, 2012

Sách mới nên đọc

Vào trang "Sách mới" để đọc sách cần đọc, nhằm biết thêm thông tin!
Nên đọc từ bài cũ dần về bài mới!

27 thg 12, 2012

Tranh khỏa thân sống động như ảnh chụp

Dân trí)– Hoạ sĩ người Anh Robin Eley chỉ dùng những cây cọ vẽ đơn giản để tạo nên những tác phẩm tranh sắc nét, sống động, như thật. Hầu hết tranh vẽ của Robin đều lấy đề tài... khỏa thân.

Sinh ra ở Anh, lớn lên ở Úc và học tập tại Mỹ, Robin Eley là người nghệ sĩ mang trong mình những đặc trưng văn hoá của cả ba lục địa. anh nổi tiếng với những bức tranh “siêu thực” của mình, đa số các “mẫu” của anh đều được khắc hoạ trong trạng thái khoả thân, quấn quanh mình mảnh vải nhựa trong suốt. Trên bức sơn dầu cỡ lớn, những chi tiết dù nhỏ nhất trên cơ thể “mẫu” cũng được khắc hoạ tỉ mỉ nhưng dưới góc độ mờ ảo hơn bình thường bởi lớp vải nhựa trong suốt che phủ.
“Được truyền cảm hứng từ hội hoạ Phục hưng, tôi luôn muốn kết hợp giữa xu hướng cổ điển và hiện đại. Những tác phẩm tranh tôn lên vẻ đẹp của cơ thể con người gần đây đã giảm dần về số lượng và tôi tự hỏi mỹ thuật hiện đại có còn tha thiết với vẻ đẹp hoàn mỹ của cơ thể con người nữa không. Dù tôi luôn cố gắng khắc hoạ “mẫu” một cách chân thực nhất có thể, nhưng nội dung hoàn cảnh mà “mẫu” xuất hiện trong đó thì hoàn toàn mờ ảo và bị xoá nhoà. Những chỉ dẫn về không gian, thời gian trong tranh của tôi gần như không tồn tại”, Robin Eley chia sẻ.

Robin Eley là một con người của ba châu lục
Những tác phẩm tranh ấn tượng của Robin Eley:
Tranh của anh hầu hết là tranh sơn dầu khổ lớn,...
...sống động như ảnh chụp

Người mẫu trong tranh khỏa thân của anh thường quấn mình trong một tấm nilon trong suốt
Anh chú ý từng chút tới ánh sáng, độ tương phản trên da, trên tóc... để đạt tới sự chân thực hết sức có thể
Những bức tranh của họa sĩ Robin Eley được vẽ trên chất vải đặc biệt của Bỉ
Một số tác phẩm tranh ấn tượng khác của Robin Eley:

26 thg 12, 2012

Top ten phát ngôn ấn tượng 2012

top ten phat ngon an tuong 2012Câu “tự do cái con c…” của Trung tá công an Vũ Văn Hiển xứng đáng đứng đầu bảng top ten, là phát ngôn ấn tượng nhất của năm 2012. Điều đặc biệt ở chỗ nó đã vô tình tạo nên một hiệu ứng ngược thú vị: dân tình giờ chửi mắng ai đều không văng c… nữa, ví dụ không phải “mày làm như con c…” mà thay bằng “mày làm như cái… tự do”!
          1. “Tự do cái con c…!”- Phát ngôn kinh động gây phẫn uất dư luận của Trung tá Vũ Văn Hiển, phó công an phường 6 quận 3, TP HCM  khi thấy bà Dương Thị Tân, người vợ cũ của blogger Điếu Cày và con trai mặc áo có hàng chữ “tự do cho những người yêu nước” trên ngực.
          2. Đảng như con cá ngúc ngoắc trong ao cạn: “Một số người trung thực đã quyết định không vào đảng, một số cán bộ cao cấp, kể cả sĩ quan quân đội khi nghỉ hưu đã bỏ sinh hoạt đảng. Sự suy giảm lòng tin trong dân thật nặng nề. Từ chỗ “đảng viên hư trước, làng nước hư theo” đến chỗ dân tỉnh ngộ sẽ không theo đảng nữa. Thế là đảng dần dần như con cá ngúc ngoắc trong cái ao cạn”- Nhà văn Vũ Tú Nam.
          3. Đất nước trên cỗ xe hỏng phanh: “Đất  nước chúng ta đang đi trên một cỗ xe mà người lái không biết lùi, và xe hỏng phanh… chỉ băm băm lao về phía trước, đầy những rủi ro”- Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc.
          4. Đồng chí X: “Chỉ có cân nhắc tình hình hiện nay, cân nhắc lợi hại thì quyết nghị là không thi hành kỷ luật. Như vậy không có nghĩa là Bộ Chính trị không có lỗi, không phải là cá nhân đồng chí “X” không có lỗi”- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang giải thích về việc Bộ Chính trị không kỷ luật Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
          5. Tôi không chạy, cũng không xin, không thoái thác: “Gần suốt cuộc đời tôi theo đảng, cách mạng, dưới sự hoạt động trực tiếp của đảng, tôi không chạy, tôi cũng không xin, tôi không thoái thác nhiệm vụ gì mà đảng, nhà nước phân công. Tôi sẽ tiếp tục thực hiện nghiêm túc như đã làm trong suốt 51 năm qua”- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn của đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc về văn hóa từ chức.
          6. Ăn hết phần của dân: “Nhiều cử tri nói thẳng với tôi “một số cán bộ có ăn hối lộ thì cũng ăn vừa phải thôi, ăn hết như thế thì còn đâu để nhân dân ăn?”- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
          7. Kỷ luật sinh ra thù oán: “Kỷ luật mà không tính kỹ thì lại rối, mai kia là ân oán, thù hằn, đối phó, thành phe phái, rối nội bộ”- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giải thích vì sao không kỷ luật bất cứ ai, kể cả “đồng chí X”.  Ông gọi đây là sự khoan dung theo tinh thần ‘nhân văn Việt Nam’.
          8. Tổ quốc XHCN là cái sổ hưu“Bảo vệ tổ quốc Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa hiện nay có rất nhiều nội dung, trong đó có một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta đó là bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu”Đại tá, phó giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh, Học viện chính trị Bộ Quốc phòng.
          9Mới mẻ chưa từng có trên thế giới: “Đây là việc vô cùng mới mẻ, nếu chúng ta làm được thì đây là mô hình đánh giá cán bộ rất hiếm có trên thế giới. Nhiều nước cũng có biện pháp đánh giá sự tín nhiệm đối với chính phủ và người đứng đầu chính phủ, nhưng đánh giá tất cả thành viên chính phủ, đánh giá cả chủ tịch nước, phó chủ tịch nước; chủ tịch, phó chủ tịch quốc hội và tất cả những người đứng đầu cơ quan lập pháp thì phải nói là trên thế giới chưa hề có”- Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đánh giá về chủ trương lấy phiếu tín nhiệm cán bộ quan chức.
         10. Trận đánh hay viết thành sách“Không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Một là, anh em cơ động dùng thuyền để tiếp cận là chưa có bao giờ trong giáo án, đã phải dùng thuyền nan để chèo vào, bí mật áp sát mục tiêu đấy. Đánh mũi trực diện nghi binh ra làm sao. Rồi là tác chiến vòng ngoài, vòng trong thế nào. Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách!”- Đại tá giám đốc công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca nói về cuộc cưỡng chế Tiên Lãng.
245
678910 
*     *     *     *     *
          2012 là một năm quá nhiều phát ngôn ấn tượng, ấn tượng đến bi hề. Vì thế để tránh bỏ phí những phát ngôn… xuất sắc, xin giới thiệu thêm top phát ngôn lọt vào chung khảo, gồm những phát ngôn từ vị thứ 11 đến 20:
          11. Tập đoàn tham nhũng: “Tham nhũng đang là một vấn nạn nghiêm trọng. Ban đầu là một bộ phận, sau đó là một bộ phận không nhỏ, và giờ thì có đồng chí còn nói là cả một tập đoàn… Chúng tôi hiểu tình hình trù úm người tố cáo là rất ghê gớm. Nhưng vì sợ bị trù úm mà chúng ta không tố cáo thì đất nước này sẽ thế nào? Người ta có thể trú úm một người, một nhóm người nhưng không thể trù úm cả dân tộc này”- Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
          12. Thế hệ chúng tôi tự hào vì đã hút cạn dầu, đào hết than: “Thế hệ chúng tôi đã hút gần hết dầu, đã đào gần hết than, đã dùng lưới cào và  thuốc nổ  khai thác hết cá ở biển, từng đi chặt rừng để bán sang Nhật. Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng nhưng tôi rất tự hào về cái đó. Bởi vì chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau”- Chuyên gia kinh tế Bùi Văn.
         13. Dân lấy đâu ra nhiều tiền thế?: “Hỏi người sử dụng ô tô lấy đâu ra nhiều tiền như vậy để mua? Trong khi đó mới chỉ đề cập đến chuyện thu phí đã… kêu ầm lên!”- Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị mắng dân khi nghe dư luận phản ứng gay gắt trước các chủ trương thu phí thuế giao thông.
          14. Mở cuộc vận động tiết chế lòng tham: “Nên mở một cuộc vận động cao điểm về tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, công chức tiết chế lòng tham: Hãy dùng con mắt lương tâm của mình xem mình làm giàu bất hợp pháp đến mức nào, gây thiệt hại gì cho dân cho nước?”- Đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương.
         15. Làm Bộ trưởng mà chả có đồng nào trong túi: “Làm Bộ trưởng đúng lúc cắt giảm không sung sướng gì. Nhiều nơi đến xin gặp toàn phải xin phép từ chối. Được làm Bộ trưởng mà chả có đồng nào trong túi cả!”- Bộ trưởng Kế hoạch đầu tư Bùi Quang Vinh.
          16. Việt Nam là nước XHCN nên không cần biểu tình: Ông Niê Thuật, đại biểu quốc hội, ủy viên trung ương đảng, Bí thư tỉnh ủy Đăk Lăk đề nghị rút dự luật biểu tình khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của quốc hội năm 2013, vì theo ông “nước ta là nước xã hội chủ nghĩa, chưa nói tới biểu tình”.
          17. Xin nhận một nửa giải Nobel: “Người ta tìm ra bộ ba bất khả thi giữa tăng trưởng, lạm phát và tỷ giá, ông đó được quốc tế cho giải thưởng Nobel. Vậy mà hiện nay chúng ta phải vừa làm sao kiềm chế được lạm phát mà vẫn phải tăng trưởng. Tôi đã có lần nói đùa với Chủ tịch quốc hội là em chỉ cần nửa giải thưởng Nobel cũng được, nếu em làm được một trong hai”- Thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình trả lời chất vấn của đại biểu Trần Du Lịch về sự điều hành kém cỏi của ngành ngân hàng trong mục tiêu kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng, ổn định tỷ giá và câu chuyện quản lý vàng.
         18. Đóng phí là yêu nước: “Đóng phí là thể hiện sự yêu nước vì thế người dân phải thấy đó là niềm hạnh phúc và tự hào”- Bộ trưởng Giao thông- vận tải Đinh La Thăng.
          19. Đặc xá vì nhà tù quá tải: “Ít năm trước, thành phố hô hào bắt tội phạm nhưng sau đó, một năm lại phải đặc xá một đến hai lần vì trại giam quá tải chứ không phải do phạm nhân cải tạo tốt”- Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó giám đốc công an TP Hồ Chí Minh. 
          20. Câu trả lời để quên ở nhà: “Câu hỏi của đại biểu thì chúng tôi đã có (câu trả lời) đầy đủ nhưng đang để ở nhà”- Bộ trưởng Xây dựng Trịnh Đình Dũng trả lời chất vấn tại quốc hội về sai phạm của tập đoàn Sông Đà và các tập đoàn, tổng công ty khác.
1112131415
1617 1920     

Phan Thị Bích Hằng đính chính tin đồn

Theo (giadinh.net).GiadinhNet 
Phan Thị Bích Hằng cười chua chát: Tôi sợ thông tin kiểu đồn đại lắm rồi. Chỉ vì những lời đồn kiểu này mà cuộc sống gia đình bị xáo trộn, có thời gian tôi chìm trong stress. “Nhưng sau bao biến cố, cũng đến lúc tôi muốn trải lòng với mọi người. Để mọi người hiểu tâm tình của một con người bình thường nhưng lại “trót” mang nghiệp “siêu nhân” trong một thế giới khác”.

Cuối cùng, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã đồng ý để chúng tôi ghi lại thời khắc chị tưởng như gục ngã trước những lời đồn ác tâm. Và cũng chính nhờ những “linh hồn”- những “người” mà Bích Hằng vẫn trò chuyện hằng đêm đã giúp chị cân bằng cuộc sống vốn đầy rẫy thị phi !
Mỗi tối, tôi trò chuyện  với 4- 5 linh hồn
Nhiều người cứ nghĩ khi đã nổi tiếng thì tôi chỉ chọn hồ sơ của khách VIP mà tìm giúp. Hoặc nghĩ tôi giàu lên nhờ khả năng tìm mộ nên nhiều người ghen ghét, đặt điều nhiều chuyện như thời gian vừa qua. Nhân đây tôi cũng xin lỗi nhiều bạn bè thân thiết, bà con cô bác gần xa có nhờ tôi tìm mộ mà tôi chưa kịp giúp được. Không phải vì tôi “mải mê với khách VIP”, không phải tôi ưu tiên những mối quan hệ cần thiết khác mà vì tôi quá bận để giải quyết 7.000 bộ hồ sơ đang còn tồn đọng trong nhà. Họ là những người nghèo, những người ở xa nên tôi dành thời gian cho họ nhiều hơn. Đặc biệt có một số “linh hồn” cương quyết từ chối không hợp tác, không chịu nói chuyện với tôi nên chưa làm được.
Thời gian gần đây, khi nhắc đến chị, mọi người thường nhớ đến hình ảnh một doanh nhân bất động sản, chứ không phải là một nhà ngoại cảm tìm mộ như trước đây?

- Mọi người nhìn nhận như vậy bởi lẽ họ thấy tôi đang làm việc cho một Công ty kinh doanh bất động sản. Nhưng trên thực tế, công việc mà tôi đang đảm nhiệm tại đây là mảng từ thiện xã hội. Đây cũng chính là công ty trước đây thường tài trợ giúp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và tôi thực hiện các chương trình hoằng dương Phật pháp, cầu siêu và tìm mộ liệt sĩ. Năm 2009, công ty muốn mở rộng phương án công tác xã hội nên mời tôi về phụ trách mảng này.

Ngoài thời gian ở trường đại học, chị còn làm thêm việc công ty, lại còn chăm sóc gia đình nữa. Như vậy chắc hẳn hết thời gian cho việc đọc hồ sơ, “trò chuyện với các linh hồn” để tìm mộ như chị vẫn làm?

- Tôi làm việc tại Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (tên cũ là trường ĐH Quản trị Kinh doanh Hà Nội) từ năm 1999 đến nay. Để tạo điều kiện cho tôi làm công tác xã hội, từ thiện, tìm liệt sĩ, nhà trường giao cho tôi công việc bán thời gian. Trường chính là gia đình thứ hai, là cái nôi tinh thần của tôi. Ngoài ra, tôi còn là cán bộ bộ môn cận tâm lý, cộng tác viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Những công việc này tôi đều hoàn thành. Còn ở công ty, chỉ khi nào có việc liên quan đến các chương trình từ thiện, hỗ trợ tìm mộ hay các Đại lễ cầu siêu thì tôi mới dành nhiều thời gian thôi.

Việc tìm mộ tôi vẫn làm như một thói quen. Cứ vào lúc 11h đêm mỗi ngày, khi xong hết mọi việc nhà, 2 con đi ngủ tôi lại ngồi với các hồ sơ được gửi đến. Trước khi “trò chuyện” với mọi người, tôi thường đọc cho họ nghe một vài đoạn Kinh địa tạng hay những đoạn Kinh trong Lễ Vu Lan báo hiếu. Để làm gì ư? Để giúp những linh hồn này siêu thoát, nhẹ nhàng hơn trong một thế giới khác. Sau đó tôi lần lượt giở những  hồ sơ lưu giữ ra làm việc. Có hồ sơ ở trong phòng làm việc này đã hơn 10 năm, có những hồ sơ vừa được gửi đến. Mỗi tối tôi cố gắng “giải quyết” (tức là nói chuyện với các linh hồn- PV) khoảng 5 người. Khi nói chuyện, tôi phải tỉ mỉ ghi chép hết những thông tin họ kể như về địa danh, phương hướng, đặc điểm nhận dạng mộ, đường đi, lối lại… Để thông tin lại cho các gia đình đi tìm kiếm.

Vậy ra không như thiên hạ đồn thổi: Chị hoàn toàn “giải nghệ” trong lĩnh vực tìm mộ?

- Tôi chưa bao giờ có suy nghĩ “giải nghệ” như người ta nói. Tôi tâm niệm, khả năng “nói chuyện được với các linh hồn” của mình như là một trọng trách mà tôi đã được giao phó. Bao gia đình cả người sống và người đã mất đang cần tôi. Vậy tại sao tôi lại “giải nghệ” cơ chứ? Đúng là có thời điểm, do quá chán nản, mệt mỏi trước những lời đồn độc địa, tôi tạm dừng các buổi “nói chuyện” với người của thế giới bên kia. Nhưng chỉ được 10 ngày, sau đó đầu tôi đau khủng khiếp. Uống  thuốc giảm đau cũng không tác dụng. Thật sự lúc đó tôi còn thấy “rất nhớ” các liệt sĩ và người âm nữa, tôi chọn giải pháp: Quay trở lại nghiên cứu hồ sơ được gửi đến. Kỳ lạ, chứng đau đầu tự dưng thuyên giảm. Cũng có thể chỉ là sự trùng hợp, nhưng nó cho thấy: Số phận tôi dường như đã gắn bó với công việc này. Một trọng trách kỳ lạ mà không phải ai cũng có khả năng gánh vác. Công việc này gắn bó với cuộc đời tôi, tuy nhiều khi rất cực khổ nhưng tôi cảm thấy hạnh phúc vì giúp đỡ được nhiều người, nhiều gia đình, góp phần làm dịu bớt nỗi đau chiến tranh, nỗi đau mất người thân!

Từng bị dư luận dồn đến chân tường
Tôi sắp hoàn thành cuốn sách về “thế giới bên kia”

Chuyện âm- dương hay chuyện có hay không một cuộc sống khác là đề tài sẽ được bàn trong cuốn sách tôi sắp hoàn thành. Khi đó, người đọc sẽ tự có câu trả lời! Tôi cũng đang tiến hành viết cuốn “Cảm nhận về cõi âm sau 20 năm tiếp cận”. Cuốn sách là câu chuyện về những lần tôi đi thực tế tìm mộ. Tôi thấy cần phải ghi lại, nếu không sẽ quên. Tôi còn ấp ủ ra mắt cuốn sách “Hành trình 21 năm tìm mộ”. Hy vọng đến khoảng tháng 2/2012  sẽ hoàn thành. Đây cũng là năm đánh dấu tôi bước sang tuổi 40.

Theo báo chí đưa  tin, hồi  tháng 10/2010 chị đã tuyên bố dừng nhận hồ sơ tìm mộ.  Nhiều người cho rằng, động tác này chính là cách chị thông báo “giải nghệ” khi có quá nhiều lời“tiên tri”bất thành?

- Đúng là tôi đã tuyên bố dừng nhận hồ sơ, nhưng lý do không phải như mọi người nói. Tôi chỉ đi tìm mộ chứ không phải nhà tiên tri nên không bao giờ tiên tri.

Trước đó, có một loạt tin đồn: Bích Hằng tiên đoán cầu Bãi Cháy, cầu Long Biên, cầu Thăng Long sẽ sập khiến tôi vô cùng bàng hoàng. Nhưng tôi cũng không lên tiếng đính chính hay nói lại đôi co với các báo về những thông tin mà bản thân tôi không hề phát ngôn. Tôi đã im lặng và thoát khỏi những ngày tháng mệt mỏi bằng cách lên đường cùng Công ty, Bộ đội Biên phòng 2 tỉnh Quảng Bình - Hà Tĩnh, Trường Đại họcY Hà Nội, Đài truyền hình Việt Nam, đi làm từ thiện ở miền trung. Cùng Tổ đình Chùa Vĩnh Nghiêm và các bạn bè Phật tử  làm lễ cầu siêu cho các chiến sĩ trận vong và đồng bào tử nạn.
Đến khi thấy tin đồn thất thiệt ngày một lan xa, gây hoang mang trong  nhân dân nên tôi đã đồng ý trả lời phỏng vấn một số cơ quan chức năng và thông tấn, báo chí: Phủ nhận, phản bác tin đồn để giữ an ninh tư tưởng  trong nhân dân và xã hội. Lần đầu tiên, sau vô số sự cố, tôi đã trả lời trên báo Thanh Niên, chương trình truyền hình “Vì an ninh Tổ quốc VTV1”, Truyền hình thông tấn xã Việt Nam... Cũng thời điểm đó, tại nhà tôi còn tồn đọng hơn 7.000 bộ hồ sơ. Việc tồn đọng hồ sơ cũng là một lý do lớn để tôi nghĩ đến việc mình phải tạm dừng để giải quyết cho xong. Và trong một lần phỏng vấn của VTC New tôi tuyên bố dừng nhận hồ sơ.

Cũng có nhiều ý kiến nhìn nhận rằng, bản thân chị ngày càng mất đi khả năng “nói chuyện với người cõi âm” nên chị đành phải tuyên bố dừng nhận hồ sơ?

- (Cười) Thế à? Nếu hết khả năng để được sống như một người bình thường chẳng phải là đỡ mệt mỏi lắm sao? Nhưng tiếc là khả năng này của tôi không hề bị suy giảm mà có phần được tăng cường hơn bởi kinh nghiệm 21 năm qua. Có những việc mà chỉ những người có khả năng như tôi hay những nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề tâm linh mới thấu hiểu.
Ảnh trong bài nhân vật cung cấp

Tin vào “nhân duyên” âm- dương

Những năm 90 người ta thường thấy khu nhà chị ở Kim Liên những ngày cuối tuần thường chật nêm người xếp hàng để được vào nhà chị gửi hồ sơ. Nhưng giờ có vẻ mọi người không còn tín nhiệm hoặc giả chị “mất thiêng” nên không thấy cảnh này ở nhà chị nữa?

- Đó là cảnh thường ngày diễn ra ở nhà tôi suốt thời gian từ năm 1996 đến năm 2010. Ngày nào cũng có khách đến nhờ, khách gửi hồ sơ. Đông đến mức, tôi đi làm về nhiều khi không vào nhà được bà con ngồi chật dưới cầu thang, trong nhà, ngoài ngõ. Ngày đó, tôi  tiếp nhận có khi hàng  trăm hồ sơ một ngày nhưng chỉ giải quyết được 20-30 bộ hồ sơ/ 1 ngày. Có khi chẳng kịp ăn tối.

Trước đó, từ năm 1994, tôi công tác tại Binh đoàn 11 và được ở nội trú trong Binh đoàn. Người ta biết tôi, nên tìm đến nhờ tìm mộ đông lắm. Lúc đầu, Binh đoàn còn cho tiếp khách, nhưng sau này thấy đông quá họ đề nghị đóng cửa. Thấy phiền quá, tôi chuyển ra ngoài ở và từ ngày chuyển ra khu Kim Liên, họ lại đi theo và tiếp tục xếp hàng đông trước nhà. Đến năm 1997 tôi lấy chồng, cuộc sống gia đình cũng bị xáo trộn bởi những buổi tiếp nhận hồ sơ như thế. Có khi vừa bầy mâm cơm ra, là lại có khách. Thời gian này, rất ít khi tôi được ăn cùng gia đình. Tiếp khách lúc nào cũng hơn 10 giờ đêm, thậm chí 12 giờ đêm mới xong việc. Cả ngày tôi làm ở cơ quan, trở về nhà lại chẳng được nghỉ ngơi nên rất mệt mỏi.
Tháng 3/2010 sau chuyến đi Nghệ An và Đắk Lắk tìm mộ về tôi ốm nặng phải nằm điều trị nhiều ngày ở BV Bạch Mai, khi đó chồng tôi quyết định phải chuyển nhà, giấu địa chỉ với mọi người. Cảnh xếp hàng trước nhà không còn nữa. Nhưng rồi hồ sơ vẫn được chuyển đến, họ không xếp hàng nữa mà nhờ người thân, quen của tôi chuyển hộ. Tức là có trốn, ẩn danh họ cũng vẫn biết cách để gửi hồ sơ.

Thời gian gần đây, người ta nói chị chỉ lựa chọn hồ sơ khách VIP, những người có chức có quyền để tìm mộ giúp. Còn với những người dân bình thường, chị dồn hồ sơ để lại hoặc là không tiếp nhận nữa. Chính điều này đã khiến khả năng của chị bị suy giảm?

- Đó là một trong những lời cay độc nhưng không đúng sự thật khiến tôi rất bất bình. Trong chuyện này, nhiều khi muốn tìm giúp người này hay người khác sớm nhưng “người âm” không hiện lên cho tôi nói gặp thì làm sao mà tìm được? Có người tôi xin tới mấy chục lần mà vẫn không “gặp” được. Sau khi nghiên cứu kinh Phật tôi mới hiểu điều này rõ ràng phụ thuộc vào “nhân duyên” âm- dương. Hồ sơ mà tôi giải quyết nhiều nhất trong suốt thời gian qua lại chính là do gia đình người dân ở các tỉnh gửi về.

Hồi tôi còn ở Binh đoàn 11 hay khu Kim Liên- Hà Nội nhiều người biết tin tôi tìm được mộ, ngày nào cũng có bà, có chị xếp hàng để được vào nhà tôi gửi hồ sơ. Họ thường là người các tỉnh lên, đi lại rất vất vả nhưng vẫn quyết tâm, khao khát  tìm cho được mộ người thân nên tôi thường dành nhiều thời gian cho những người này. Còn khách VIP như bạn nói tôi thấy họ có phương tiện đi lại dễ dàng, thuận tiện, lại là những người hiểu và thông cảm với công việc của tôi, rất nhẫn nại chờ đợi  nên tôi thường để lại hồ sơ làm sau thành thử có những quan chức, đại gia, kể cả bạn bè thân nhờ đến 5 - 7 năm rồi mà tôi đã giúp được đâu! Thú thật nhiều khi tôi rất áy náy và thấy mình có lỗi với những người này!

Các “linh hồn” giúp tìm chìa khóa két

Chị nói giờ mỗi ngày chỉ “nói chuyện” được 3-5 linh hồn, thay vì trước đây, khi còn nhiều năng lực thì con số này là hơn 20 bộ hồ sơ?

- Vấn đề này không phụ thuộc vào năng lực nhiều hay ít mà phụ thuộc nhiều vào sức khỏe và thời gian. Trước đây, công việc chưa bận rộn nên tôi dành nhiều thời gian hơn cho việc xem hồ sơ. Hồi mới đi làm ở Binh đoàn 11, tôi làm thủ quỹ và đã từng phát nhầm tiền, phải bù tiền vì bị phân tán bởi những lần “nói chuyện” với các linh hồn trong giờ làm việc. “Họ” thường đến lúc tôi đang làm việc, nói rằng nhờ thông báo về địa chỉ này, người kia rằng mộ họ nằm ở chỗ này, chỗ khác. Thế là tôi lại ghi ghi-chép chép. Có lần, tôi  làm mất chìa khóa két. Đến mức thủ trưởng cơ quan phải gọi Công an vào lập biên bản để phá khóa két và đề nghị cho tôi thôi việc vì sự thiếu thận trọng. Nhưng ngay lúc đấy, tôi than thở với các liệt sĩ và rồi chẳng hiểu sao tôi lại tìm được chìa khóa két để trong… tủ lạnh! Vì vậy sau đó để tránh những phiền phức trong công việc, tôi đã “xin” các linh hồn không xuất hiện lúc tôi làm việc. Và tôi đã dành thời gian buổi tối để gặp họ.

Bây giờ với tình hình sức khỏe và công việc trong thời gian ngắn ngủi từ 11 giờ đêm đến khoảng 2 giờ sáng hàng ngày, tôi cũng chỉ có thể giải quyết được khoảng 3-5 bộ hồ sơ mà thôi. Như hiện nay, tôi vẫn để ở bàn làm việc của công ty hai hộp hồ sơ. Khi nào tôi rảnh, hay khi bỗng dưng “thấy” họ, tôi lại tranh thủ ghi chép những thông tin về địa chỉ mộ rồi thông báo cho gia đình.

Giờ chị sống ở nhà đẹp hơn, có lái xe riêng thay vì trước kia sống ở chung cư cũ, đi xe máy. Tức là, chính năng lực khác người này của chị đã giúp cuộc sống chị có đầy đủ tiện nghi hơn?

- Nếu nói như thế thì thật ác ý với tôi và phụ công chồng tôi quá! Cuộc sống gia đình tôi cho đến giờ hoàn toàn do chồng tôi lo là chính. Xe và lái xe là của công ty. Còn với việc tìm mộ, mọi người cũng đến cảm ơn khi bằng phong bì, khi thì những sản phẩm quê hương như mớ rau, con gà quê… có Tết cả mấy nhà bạn tôi và nhà tôi ăn gà không hết. Những chiếc phong bì đó tôi xung vào quỹ từ thiện Tâm vàng, tập trung hết trong ngăn kéo bàn làm việc. Khi có việc cần đến tiền đi làm từ thiện, tôi gọi mấy người bạn trong nhóm từ thiện mở ra và nói: “Xin cho cháu/em được sử dụng số tiền trong này để đi làm chương trình từ thiện …”, rồi tôi mới bóc phong bì. Nhiều năm đi tìm mộ tôi thấy nhiều gia đình liệt sĩ hoàn cảnh éo le, nhiều nạn nhân chất độc da cam, thương bệnh binh ... nghèo khổ mà tôi không đủ tiền giúp đỡ nên từ năm 2002 tôi cùng một số bạn bè và chủ yếu là thân nhân các gia đình Liệt sĩ đã lập “Quỹ từ thiện Tâm vàng” để làm từ thiện.

Chồng tôi từng ước vợ mất khả năng ngọai cảm

Mọi chuyện dường như cũng đã lắng xuống. Chị đã dần lấy lại thăng bằng sau bao sự cố. Liệu chị có cần phải công bố chính thức việc ‘tái xuất giang hồ” với khả năng hiếm có để tiếp tục giúp mọi người?

- Tôi chưa bao giờ tuyên bố “giải nghệ” nên cũng chẳng cần phải tuyên bố chính thức quay trở lại với việc tìm mộ. Bởi thời gian qua, tôi vẫn âm thầm nhận hồ sơ và ngày nào cũng xử lý 3-5 bộ vào mỗi đêm. Từ năm 17 tuổi tôi đã gắn bó với khả năng đặc biệt này nên tôi sẽ cố gắng làm việc với khả năng tốt nhất cho tới khi sức khỏe và khả năng còn cho phép.

Cũng đã có một thời gian dài gia đình chị có nhiều mâu thuẫn, có lúc tình cảm vợ chồng căng thẳng, mái ấm có nguy cơ tan vỡ vì chính khả năng của chị. Có lúc nào đó chị muốn nguyện mất đi khả năng đó để làm một người bình thường, một người vợ đúng nghĩa của gia đình?

- Đúng là tôi bị chi phối quá nhiều vào khả năng của mình. Nhiều khi ở nhà yên được vài hôm rồi cứ như bị thúc giục, tôi lại thu xếp hành lý và lên đường đi tìm mộ. Có tiếng nói ở đâu xa lắm, họ hướng dẫn chỉ bảo và khuyến khích tôi đi. Những lúc như thế, chồng con, gia đình nhất là 2 con bé bỏng của tôi phải chịu thiệt thòi, hy sinh và chồng tôi- chính là người chia sẻ với tôi rất nhiều.

Nhưng chồng tôi cũng như bao người đàn ông khác, anh là một người làm kinh doanh, anh đã quá bận rộn, căng thẳng với thương trường, nên anh cũng muốn vợ dành nhiều thời gian cho gia đình, con cái. Giai đoạn gia đình căng thẳng là giai đoạn tôi “nổi tiếng” quá. Nhiều người biết, nhiều người tìm đến nhờ. Bữa cơm gia đình lúc nào cũng dở dang vì tiếp khách. Thời gian đó, có dễ đến hàng năm, tôi không được ăn cơm tối cùng chồng con. Nhiều khi quá mệt mỏi, tôi cũng có những lời nói bực dọc với cả gia đình và mọi người đang nóng lòng chờ tôi tiếp nhận hồ sơ. Nhưng cũng chỉ thoáng qua như thế, tôi lại lao vào công việc như một sự đam mê định mệnh.

Tôi không nguyện mất đi khả năng này, vì tôi thấy nhiều người cần giúp quá. Sức lực tôi thì có hạn, nhưng tôi vẫn làm cho đến khi nào họ cần tôi. Nhưng chồng tôi thì có, anh ấy từng ước:  “Anh ước, một sáng ngủ dậy, bỗng nhiên em nói: Anh ơi em mất khả năng ngoại cảm rồi”. Đó là một trong hai điều ước của chồng tôi khi đó. Điều còn lại anh ước, người bố nằm liệt ốm bao năm bỗng nhiên đứng dậy đi được. Nhưng cả hai điều ước này chẳng điều nào thành hiện thực!

Các con chỉ mong mẹ ở nhà

Chắc chồng chị vẫn ước chị mất khả năng?

- Không hẳn là như vậy. Sau đợt khủng hoảng gia đình đó, tôi đã biết cách thu xếp cuộc sống khoa học hơn, quan tâm chăm sóc tới gia đình và hai con nhiều hơn. Chồng tôi cũng hiểu thêm về những áp lực công việc của vợ và đã chia sẻ, động viên tôi rất nhiều. Giờ tôi đã  sắp xếp được thời gian làm việc ở trường, ở công ty, đi làm từ thiện, tìm mộ và chăm sóc gia đình tốt hơn rồi!

Hai con trai của chị có bé nào thừa hưởng khả năng kỳ lạ này của mẹ  không?

- Cậu em có vẻ có khả năng này. Vì có lần tôi đang nói chuyện với các linh hồn trên phòng làm việc, nó đẩy cửa bước vào và phụng phịu nói: “Con không thích các bạn đến nhiều thế này đâu”. Lúc đó là lúc tôi đang “nói chuyện” với các linh hồn chết trẻ. Tôi toát mồ hôi vì quá bất ngờ và lo sợ! Thật lòng tôi rất sợ con tôi có khả năng  như tôi vì hơn ai hết tôi hiểu sự vất vả, cực khổ, đôi khi là cả sự đắng cay của người làm tâm linh và tôi không muốn con tôi phải khổ như tôi. Thằng anh nhiều lúc còn khóc không cho tôi đi tìm mộ hay cứu trợ đồng bào trong vùng lũ. Nó bảo, sợ mẹ... trôi theo nước lũ. Cả hai đứa con đều thích mẹ  trong  trang phục tóc thả ngang vai, đi giày cao gót và mặc đầm. Với chúng nó, như thế tức là tôi sẽ ở nhà. Chứ cứ thấy tôi đi giày thể thao, tóc cột cao, mặc quần bò áo phông tức là mẹ sẽ đi xa chúng đến cả tuần mất.

Từ tháng 10 năm 2010 tôi bắt đầu tập trung thời gian viết lại những công việc mà 21 năm qua tôi đã làm. Cũng nhờ vậy mà tôi có nhiều thời gian hơn bên  hai con. Khi gần con hơn tôi mới càng hiểu và thương hai con đến quặn lòng về những tháng năm tôi đã để các con phải chịu thiệt thòi, hy sinh quá nhiều cho công việc của Mẹ. Có những đêm con ốm, cháu ôm chặt tôi nói ‘con ốm mẹ đừng đi xa nữa nhé, con sợ lắm!’. Nhớ lại thời gian trước đây khi con ốm tôi vẫn đi tìm mộ để con ở nhà với bà nội tôi đã khóc ròng tới sáng.

Có cảm giác như sau khi chị hoàn thành hết những cuốn sách này là chính thức “rửa dao gác kiếm”?

- Tôi nói rồi, cuộc đời tôi như được giao trách nhiệm trong việc tìm mộ. Và tôi sẽ còn thực hiện đến khi nào còn đủ sức khỏe. Hiện tôi không đi được nhiều và xa vì bệnh thoát vị đĩa đệm. Nhưng tôi vẫn tiếp nhận hồ sơ và hàng đêm vẫn “trò chuyện” với các linh hồn để tìm ra địa chỉ mộ cho mọi người.

+ Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện !
Vân Khánh 
 (thực hiện)