25 thg 3, 2013

Đất Nước tôi?

.......Thon thả giọt đàn bầu
Nghe dịu nỗi đau là đã vội quên đi hết thảy.
bảy lần tiễn con đi, không mảy may hỏi vì sao vậy
nên khi phải tiễn cháu đi cũng chả hỏi vì sao?

Đất Nước tôi?
từ thuở còn nằm nôi
sáng chống bão giông chiều ngăn nắng lửa.
nên cứ nghĩ chỉ có mỗi mình có nắng lửa bão giông.

Đất Nước tôi?
lao xao trưa hè mãi một giọng ca dao
nên nghe nhạc xập xình vội la hét thét gào.

Đất Nước tôi?
suốt đời lam lũ.
không biết rằng tất cả mọi nơi - khi bắt đầu - cũng chỉ vậy thôi.

Đất Nước tôi?
lũy tre làng,
bãi dâu,
bến nước,
và tình đời muối mặn gừng cay.
là cái cớ để tự nhủ mình
rằng lũy tre là chỗ tận cùng của Đất
và bến nước là nơi giới hạn của Trời.

Đất Nước tôi?
...mấy mùa không ngủ
Ngăn bước quân thù phía Nam phía Bắc
hết thù Bắc giặc Nam
lại tự tạo ra giặc chính giữa lòng mình.

Đất Nước tôi?
Hạt thóc chia đều dẫu no dẫu đói
nhưng chém vỡ mặt nhau vì một cái đầu Gà.

Đất Nước tôi?
sáng ngời muôn thuở
khi Trăng đã vào cửa sổ đòi thơ
chẳng nghĩ suy
nên chẳng thể ngờ
rằng Mặt Trăng kia
dẫu muôn lần rạng rỡ
cũng chỉ là
một cái gương thôi.
Ánh Sáng ư?
là của Mặt-Trời

 hongbagai vào lúc  (ngày 24-3-2013)

Việt Nam ơi, tại sao?

Tác giả: Nguyễn Quang Thạch 
           Nếu mỗi công dân chúng ta mơ về một Việt Nam được tôn trọng bởi tính trung thực, bởi lòng yêu thương con người, bởi những con tàu ra đại dương, bởi những tàu vũ trụ và chúng ta kiên trì hành động với tinh thần của ông thợ mộc và con cháu ông thì 50 năm sau một công dân của một đất nước nào sẽ gọi tên Việt Nam với sự thán phục và tôn trọng như chúng ta gọi tên Hàn Quốc và Nhật Bản như bây giờ.
            LTS: "Ngồi trên núi vàng, sao Việt Nam vẫn nghèo?" trong khi Hàn Quốc, cũng xuất phát điểm như ta, nghèo tài nguyên như ta, giờ đã là cường quốc? Câu hỏi này đã đánh động đến tâm thức của nhiều bạn đọc. Bài viết dưới đây của độc giả Nguyễn Quang Thạch, cố gắng trả lời câu hỏi này từ quan điểm riêng của mình, thông qua những quan sát từ đời sống. Có thể những quan sát này của tác giả chưa hẳn đã bao quát và toàn diện, song cũng là một góc nhìn riêng đáng chú ý. Mời bạn đọc cùng tranh luận.
Vài nét về người viết: Nguyễn Quang Thạch là tác giả của sáng kiến xây dựng các tủ sách dòng họ ở những vùng nông thôn Việt Nam, với mong muốn mọi người Việt yêu sách, ham đọc sách. Sáng kiến của anh đã được nhiều người hưởng ứng và thực hiện được trong thực tế.
            
      Những câu hỏi mà Người quan sát đặt ra trong bài Tại sao, Hàn Quốc? tương tự những bậc đại trí của dân tộc cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh... đã đặt ra trong thế kỷ trước. Các cụ đã nhận diện ra những đặc tính xấu và yếu kém mà người Việt cần học người Nhật hay phương Tây để thay đổi nó.
            Tiếc thay, lý thuyết khai trí phục quốc và kiến quốc của cụ Phan Chu Trinh đã không thể thành công khi một quốc gia nô lệ với trên 95% dân số mù chữ. Cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã hiện thực hóa ý tưởng của cụ Phan Chu Trinh một cách khôn khéo và đồng tồn được với Pháp quốc gần 20 năm và đã tạo nền tảng khai trí cho người Việt bằng đơn giản hóa chữ quốc ngữ cũng như phổ biến tri thức cho nhân dân thời đó.  Nỗ lực của cụ Vĩnh không "chết yểu" như cụ Phan và di nguyện của cụ đã được tiếp tục từ năm 1945 khi chính phủ Cụ Hồ ra đời.
            Khởi nguồn từ phong trào bình dân học vụ với những trí thức được Pháp đào tạo, chỉ trong một thời gian ngắn đã giúp cho hàng triệu người biết chữ. Thành tựu to lớn từ phong trào bình dân học vụ và giáo dục đại chúng đã giúp cho những tá điền và con cái họ biết chữ, có cơ hội học hành lĩnh hội tri thức phục vụ kháng chiến sau này.
            Cái được lớn nhất mà chế độ mới đã giành được là tạo ra nền giáo dục đại chúng, ai ai cũng được học hành. Con cháu của những tá điền làm việc cho gia đình tôi trước năm 1954 của thế kỷ trước bây giờ đã trở thành kỹ sư, thạc sỹ và có người là tiến sỹ.
            Tôi đã đặt câu hỏi nhiều lần tại sao trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ, mặc dầu dân trí rất thấp so với bây giờ nhưng lại có đủ trí tuệ để chiến thắng với những đế quốc hùng mạnh? Tại sao bây giờ số lượng kỹ sư, cử nhân và tiến sỹ nhiều gấp hàng chục lần ngày xưa lại chưa góp phần đưa đất nước ngang bằng những nước vốn thiếu điều kiện phát triển như Hàn Quốc, Singapore lúc trước...?
            Thực tế trải nghiệm cuộc sống của một công dân sinh ra sau chiến tranh, tôi thấy rằng đất nước chúng ta đã vượt trước năm 1945 nhiều lần nhưng chưa thể bứt phá theo đúng tiềm năng sẵn có mà ít quốc gia khác có được với những nguyên nhân sau.

Chấp nhận sự dối trá và cổ vũ ăn cắp, tham nhũng
            Bức tranh đám cưới chuột và câu nói "quan tham dân gian" là những minh chứng phản ánh sự chấp nhận và thừa nhận thói dối trá và cổ vũ cho thói ăn cắp và tham nhũng đã nằm trong tâm thức dân chúng tự ngàn đời xưa.
            Vậy còn thời nay thì sao? Bi kịch thay là nạn tham nhũng đang được nhiều người dân từ công chức cổ cồn trắng, quan chức lẫn người dân ngoài bộ máy hành chính, theo một cách nào đó, "cổ  vũ"  khắp nơi.
            Xin đơn cử vài những hành động biểu thị sự cổ vũ đó:
            - Các cán bộ cấp trên xuống làm việc với cấp dưới thường hoặc phải được đối đãi "tử tế" bằng tiệc tùng xa xỉ và phong bì mang về.
            - Bạn bè gặp nhau bằng các bữa tiệc và kẻ chi tiền phần nhiều là những kẻ đục khoét tiền do dân đóng thuế thông qua các công việc đáng lẽ phải làm để phục vụ cộng đồng. Đám bạn bè được chiêu đãi đang tán dương và cổ vũ "tài ăn cắp" của ông bạn mình.
            - Vào bệnh viện, ngoại trừ những người quá nghèo, đều chấp nhận cống nạp cho bác sỹ để mong được chăm sóc theo đúng quy định, vân vân và vân vân.
            - Qua gặp cán bộ địa chính làm sổ đỏ cũng lại lót tay chút đỉnh cho việc mau chạy....
            Hành vi lẫn thói quen cổ vũ tham nhũng đã tạo thành dây xích mà các móc xích vừa to lớn vừa bị ô xy hóa làm cho chúng ta khó thấy được những giá trị thuần kim loại. Thói quen chấp nhận hành vi cũng như cổ vũ tham nhũng đã và đang biến các sợi dây nhỏ mà chính chúng ta không nhận ra thành những sợi dây lớn mà chính chúng ta không thể phá bỏ nó.
            Thực trạng tham nhũng của đất nước ta hiện nay là những siêu dây mà chỉ có thể phá bỏ nó khi mọi người dân coi trung thực là yếu tố nghiễm nhiên của đời sống.

Không dám đối mặt với chính mình, thích tô vẽ và háo danh
            Giữa thế kỷ 19, người Nhật, một đất nước bị ảnh hưởng khá nặng bởi tư tưởng Khổng Giáo đã dám đối mặt với thực tế là nhìn nhận những khuyết thiếu của dân tộc họ để thay đổi. Người ta dám thừa nhận rằng người Nhật có thần dân chứ không quốc dân Nhật, nghĩa là người ta thừa nhận sự thiếu tinh thần dân tộc trong mỗi công dân. Khi đã nhận ra những khuyết thiếu của chính mình nghĩa là người ta dám thay đổi chính mình và người Nhật đã phi Hán hóa và thoát Á từ đó. Họ đã trở thành cường quốc.
            Người Hàn Quốc từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước cũng đã thừa nhận sự yếu kém của mình và tìm đường đi cho mình với sự đồng thuận trong phong trào Saemaul Undong, một phong trào đã đưa nông dân Hàn Quốc ra khỏi đói nghèo và là nền tảng cho cuộc cách mạng cộng nghiệp.
            Chính phủ Hàn đã xuất khẩu con người để nhập khẩu tri thức, nghĩa là hàng trăm ngàn du học sinh, giáo sư đã sang Nhật, Mỹ và châu Âu để đi "ăn mày tri thức" trong hơn 20 năm trời.
            Việt Nam chúng ta thì sao? Chúng ta vẫn còn nặng tâm lý và thói quen tô vẽ chính mình và không dám nhìn vào chính mình. Xin hỏi có bao nhiêu công dân chúng ta dám thừa nhận mình kém, bao nhiêu lãnh đạo chúng ta thừa nhận thực tế để thay đổi như anh hùng Kim Ngọc? Bao nhiêu người chỉ dám nhận danh khi danh đấy là chính danh? Bao nhiêu người được tán dương là chuyên gia hàng đầu trong ngành này ngành nọ nhưng xin hỏi cái hàng đầu kia có bán ra chợ thế giới được không?
            Có ấn tượng, ở nhà cha mẹ con cái tô vẽ lẫn nhau; đến trường chúng ta tô vẽ những điều xa rời thực tế; đến cơ quan, sếp và nhân viên tô vẽ nịnh bợ lẫn nhau.
            Quan niệm "tốt khoe, xấu che" là một thứ sai lầm vì cái xấu kia sẽ trở thành vô cùng xấu và lấn át hoặc giết chết cái tốt đẹp lúc nào không hay.

Thiếu đoàn kết, ghen ăn tức ở
            Thói xấu "trâu buộc ghét trâu ăn" ngày càng phát triển. Câu chuyện 3 người Việt rơi xuống hố và cùng chết ở dưới hố là sự đúc kết đáng để chúng ta phải suy ngẫm.
            Chúng ta thường tự hào chúng ta đoàn kết nhưng mỗi chúng ta còn ghen ăn tức ở, còn dối trá, còn thích tô vẽ và được tô vẽ, còn thích danh hão... thì đoàn kết ở chỗ nào? Khi mỗi cá nhân còn muốn vơ cho mình những thứ không chính danh thì làm sao chúng ta mong có được đoàn kết thực sự. Có chăng, đó chỉ là cái vỏ đoàn kết che đậy sự chia rẽ bên trong.

Nhiều lý thuyết, kém hành động, yếu thực hành
            Những năm tháng làm công chức của tôi ở đâu cũng nghe thuyết giảng về điều hay lẽ phải, được nghe những thứ cao siêu về kỹ thuật cầu đường nhưng tiếc rằng các sản phẩm lại là những người công nhân và kỹ sư bám hiện trường.
            Rồi có nhóm người nữa thì suốt ngày ngồi chỉ trích cái này cái kia nhưng bản thân chỉ có hành động nào để thay đổi thực trạng mà họ chỉ trích.
        Cái sự học mà không hành đang nhan nhản khắp mọi nơi. Có kỹ sư cơ khi lên mặt dạy cho anh thợ hàn bậc 5 hàn dầm thép của cầu. Hãy hàn như thế này, hãy hàn như thế kia. Đến khi anh thợ cầu đưa que hàn cho hàn thì anh kỹ sư loay hoay cả tiếng đồng hồ không làm được..

Thiếu tiêu chuẩn sống
            Thời phong kiến, người ta có tiêu chí sống rõ ràng gồm Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Những tiêu chí này là giới hạn để mọi công dân khi sinh ra và lớn lên cần hướng tới tiêu chuẩn đó. Hiện nay có cảm giác hình như chúng ta đang thiếu vắng nhiều những tiêu chí đó. Nhiều khi, xã hội đánh đồng sự thành đạt đồng nghĩa với giàu có và chức vụ. Khi sự giàu có và danh vọng nằm ngoài giới hạn của đạo đức, lòng nhân ái và trách nhiệm làm người thì đừng mong đất nước đó được tôn trọng.
            Một đất nước có nhiều điều khuyết thiếu như nêu trên liệu đất nước ta có thay đổi được không?
        Tôi có đọc truyện "Người xây ngôi nhà trong giấc mơ", chuyện dài nhưng tôi xin tóm lược như thế này:
         Có người đàn ông ly quê 11 năm và đã học được nghề mộc. Sau khi về làng, người thợ mộc lại tiếp tục hành trình 10 làm thuê nhưng hầu như ông không lấy công bằng tiền mặt mà chỉ xin chủ nhà cho mình một khúc gỗ dài ngắn khác nhau tùy theo công của mình. Đêm đêm, ông đục đẽo những khúc gỗ thành từng bộ phận của ngôi nhà theo giấc mơ của mình chính xác một cách tuyệt vời.
            Mười năm sau ông dựng lên ngôi nhà mà người thường mơ thấy cả trong những năm tháng đói nghèo tha phương. Một ngôi nhà gỗ mái ngói bảy gian. Đó là một ngôi nhà rất lớn thời đó.
            Khi khánh thành nhà, người anh thúc bá với ông thợ mộc cầm chiếc ba-toong khệnh khạng bước đến đập vào mái nhà ông và nói: "Chúng bay định xây nhà to hơn người khác à. Rồi chúng bay cũng bán nhà và đi ăn mày thôi. Thớ chúng bay không được ở nhà cao cửa rộng ". Ông thợ mộc không nói một câu gì mà chỉ cầm miếng ngói vỡ cài dưới mái nhà nơi ông tôi nằm ngủ. Ông thợ mộc làm vậy để đêm đêm mỗi khi đi ngủ nhìn thấy miếng ngói vỡ mà nhớ đến lời rủa độc của người anh thúc bá để dù chết cũng không bán ngôi nhà.
            Theo di nguyện của ông, đến đời con và cháu của ông thợ mộc kể trên không những không bán ngôi nhà mà còn làm một ngôi nhà to hơn ở bên ngôi nhà trăm tuổi đó. Tư tưởng của ông thợ mộc đã giúp cho con cháu và dòng tộc trường tồn và hùng mạnh.
            Nếu mỗi công dân chúng ta mơ về một Việt Nam được tôn trọng bởi tính trung thực, bởi lòng yêu thương con người, bởi những con tàu ra đại dương, bởi những tàu vũ trụ và chúng ta kiên trì hành động với tinh thần của ông thợ mộc và con cháu ông thì 50 năm sau một công dân của một đất nước nào sẽ gọi tên Việt Nam với sự thán phục và tôn trọng như chúng ta gọi tên Hàn Quốc và Nhật Bản như bây giờ.
 -----------

Trần Thành Nam - Người Việt gian, tham?
Tác giả gửi tới Dân Luận
            Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng một tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập…
            Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời. Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình.
            Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ - một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.
            Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau:
            Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới! Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?). Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.
            Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, “mày” sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!”
            Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnameses!” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”
            Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” - “Tham lam? Tại sao?”
            Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và… hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó!
            Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.
            “Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp… do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!”
            Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!”
            Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?”
            “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…”
            Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên.     “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!
            Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dặn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham?
            Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Nó vần bảo lưu quan điểm!
            Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó: “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao?”. Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.” Rồi nó tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày!”
            “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả mày nữa?” “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…”
            “Vậy mày gian thế nào?”
            Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa…thì chúng tao mới bình đẳng được!”
            Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”
            Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đứng của nhận xét của bạn tôi.
            Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này – để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?!
            Người Việt gian tham ư?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta… Nó là cái văn hóa gi?!
            Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế!
            Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì?
            Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?



24 thg 3, 2013

Lại chuyện công an cậy quyền!

Xã hội
Thứ Sáu, 22/03/2013 - 08:44
Gia Lai:

Công an xã bị tố dùng súng "giải quyết" vụ vi phạm giao thông

(Dân trí) - Theo thông tin tố cáo, do không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, anh Thắng và anh Kết bị hơn chục cán bộ công an và dân quân tự vệ xã Trà Đa (TP Pleiku, Gia Lai) đuổi theo đánh đập và rút súng đe dọa.
Theo trình bày của anh Lê Đình Kết và anh Trần Xuân Thắng (đều là nhân viên Công ty TNHH MTV Cường Thịnh Phát, trụ sở tại KCN Trà Đa, TP Pleiku, Gia Lai), vào khoảng 23 giờ tối 20/3, hai anh điều khiển xe máy về công ty mà không đội mũ bảo hiểm. Về gần đến nơi, họ phát hiện có một nhóm người đuổi theo nên tăng tốc bỏ chạy.
Về đến công ty, họ gọi bảo vệ mở cửa gấp và thông báo với bảo vệ là anh Trần Ngọc Sơn rằng có người đuổi theo. Tưởng là có cướp, anh Sơn chạy vào phòng lấy cây rựa dùng để phát cỏ ra tự vệ.
Một lúc sau, nhóm người trên đẩy cổng đi vào công ty thì cả 3 người mới biết đó là công an và dân quân tự vệ, nên chạy vào khu vực sản xuất. Thấy 3 người bỏ chạy, các cán bộ công an vào nhà máy tìm kiếm.
Nghe thấy tiếng ồn, ông Trần Xuân Cường - Phó Giám đốc công ty - và một số nhân viên chạy ra, thì được công an thông báo: có 3 tội phạm trốn vào đây. Sau khi xác minh, ông Cường biết nhân viên của mình đã vi phạm luật giao thông nên nói với công an cứ dắt xe về, sáng mai sẽ lên công an xã tường trình sự việc.
Ông Cường kể lại sự việc với PV

Ông Cường kể lại sự việc với PV

Nghe vậy, một phó công an xã liền rút súng trong người ra, một người khác thì cầm súng AK lên đạn rồi chĩa vào nhóm người phía công ty ông Cường và hỏi: "Tụi bây muốn gì?". Thấy vậy ông Cường xoa dịu: “Các anh có gì từ từ nói chuyện”. Vừa dứt lời, ông Cường bị khẩu súng ngắn chĩa thẳng vào đầu.
Cánh cửa phòng bảo vệ bị công an đập vỡ và một phần tường bị đạn bắn vào

Cánh cửa phòng bảo vệ bị công an đập vỡ và một phần tường bị đạn bắn vào

Biết sự việc ngày càng căng thẳng, anh Thắng liền đi ra trình bày về việc đi xe không đội mũ bảo hiểm, lập tức bị công an viên và dân quân tự vệ đánh tới tấp. Bị đánh đau, anh Thắng vùng chạy vào phòng bảo vệ đóng cửa trốn, nhưng bị các cán bộ dùng dùi cui và báng súng đập vỡ cửa kính để mở cửa vào. Không dừng lại đó, nhóm công an xã này còn dùng súng bắn vào phòng.
Mở được cửa vào, nhóm công an xã Trà Đa lôi anh Thắng ra ngoài, dùng báng súng đánh liên tục vào bụng khiến anh Thắng ngất xỉu.
Khi thấy anh Sơn từ khu vực chế biến đi lên, nhóm công an xã và dân quân tiếp tục bắt giữ anh Sơn, dùng báng súng đánh, đấm đá anh Sơn; mặc cho ông Cường và các nhân viên khác van xin.
Vỏ đạn nằm lại hiện trường vụ việc

Vỏ đạn nằm lại hiện trường vụ việc

Đánh người xong, công an và dân quân xã Trà Đa còng tay anh Thắng và anh Sơn về trụ sở công an xã và tiếp tục đánh đập. Đánh xong, công an áp giải anh Sơn về nhà máy để lấy 2 cây rựa. Lúc này công an 113 cũng có mặt để tiến hành xác minh vụ việc.
Vết thương trên người anh Sơn

Vết thương trên người anh Sơn

Ngoài anh Thắng và anh Sơn bị đánh, anh Kết bị mời về trụ sở công an xã và cũng bị các công an viên đánh tới tấp.
Nhận được tin báo, ông Trần Xuân Thám - Giám đốc Công ty TNHH MTV Cường Thịnh Phát - đến trụ sở công an xin bảo lãnh cho các nhân viên công ty để đưa đi cấp cứu song mãi đến 2 giờ ngày 21/3, công an xã mới cho ông Thám bảo lãnh anh Thắng về. 2 tiếng sau, công an xã điện thoại cho ông Cường đến đưa anh Sơn đi cấp cứu. Còn anh Kết thì mãi đến 7h30’ cùng ngày mới được cho về trong tình trạng toàn thân đau đớn.
Vết thương ở đầu anh Thắng

Vết thương ở đầu anh Thắng

Chiều 21/3, bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai cho biết, bệnh nhân Sơn và Thắng bị ngất xỉu do bị chấn động quá mạnh. Bệnh nhân Trần Xuân Thắng nhập viện trong tình trạng có vết thương ở đầu, vết thương bên thái dương phải dài 4cm. Kết luận ban đầu: sang chấn đầu và sang chấn ngực; bệnh nhân Phạm Ngọc Sơn nhập viện trong tình trạng có vết thương vùng chẩm, vết thương đầu, bầm mắt phải. Kết luận ban đầu: sang chấn đầu, sang chấn ngực.
Lịch công tác của Công an xã Trà Đa

Lịch công tác của Công an xã Trà Đa

Trước thông tin tố cáo trên, chúng tôi đến trụ sở Công an xã Trà Đa tìm hiểu thực hư thì được biết ông Lê Ngọc Tường - Trưởng Công an xã - vừa được cho nghỉ sáng 21/3. Chúng tôi gọi vào số điện thoại của ông Tường thì không liên lạc được. Nhìn vào bảng phân công lịch trực được biết, ông Tường được phân công trực vào đêm 20/3 và rạng sáng 21/3. Còn ông Thành - Phó Công an xã - cho biết ông không có mặt ở nơi xảy ra vụ việc nên không biết gì (!). Việc người dân tố cáo lực lượng chức trách của xã Trà Đa đánh người vẫn đang được điều tra, chưa thể cung cấp thông tin cho báo chí.
Phóng viên hỏi họ tên đầy đủ của ông Thành thì ông này bỏ đi và không nói gì.
Ông Nguyễn Đình Thức - Chủ tịch UBND xã Trà Đa - cho biết, sự việc trên ông đã biết. Sáng 21/3, công an xã đã báo lại: Vào lúc 23h30’ ngày 20/3, công an xã đi tuần tra, phát hiện 2 thanh niên đi xe mô tô không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu họ dừng xe nhưng họ không chấp hành. Khi công an đến Công ty Cường Thịnh Phát thì các thanh niên trên mang 3 cây mã tấu ra "tiếp". Hiện tang vật vẫn đang ở trụ sở công an xã.
Sau đó ông này nói: “Có gì qua công an xã mà lấy thông tin, tôi bận đi họp ở thôn”.
Vụ việc này sẽ được Dân trí tìm hiểu và tiếp tục thông tin đến bạn đọc.
Thiên Thư

Đọc "Bóng anh hùng" - Trong lòng người còn có con sóng nào không?


Câu chuyện thấm đẫm tình người, làm mắt tôi rướm lệ, vậy mà một số Đảng viên cốt cán, Cựu chiến binh ở Phú Yên lên án là "phản động". Điều đó cho thấy não trạng họ bị xơ cứng và con tim đã mù lòa. Mời bạn xem (Th09)

Bóng anh hùng
Truyện ngắn của DOÃN DŨNG 

     Đúng là tôi đã chết. Tôi đã thành con ma trên núi. Mẹ tôi nhận được giấy báo tử ở nhà, trong giấy ghi rõ tôi đã “hy sinh vì Tổ Quốc”.
     Nhưng tôi thì luôn nghĩ rằng tôi đã chết vì mẹ mình. Chính mẹ đã đưa tôi đến thế giới lạ lùng này.
Xin các bạn chớ hoảng sợ. Người chết không hại được người sống. Người chết chẳng qua là người sống được chuyển đến thế giới khác, cũng có tình cảm và suy nghĩ như người trên trần gian. Sợi dây liên lạc giữa hai thế giới được thông qua một người có khả năng hiểu ngôn ngữ của người chết, như tay nhà văn này chẳng hạn. Hắn nghe tôi kể chuyện và chép lại bằng thứ ngôn ngữ các bạn vẫn hay dùng. Tuy vậy, nếu tình cờ đọc được câu chuyện này mà các bạn không tin thì cũng chẳng sao. Thường vẫn có quá nhiều câu chuyện được người ta kể như thật, nhưng thực ra chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.
     Đã nhiều năm tôi không về thăm nhà, nơi trước đây tôi đã từng sống cùng mẹ. Đừng tưởng người chết rồi là hết, là chẳng còn gì để mà bận tâm. Nghĩ như vậy là sai lầm! Người chết vẫn về thăm nhà vào những dịp lễ tết, nhất là ngày giỗ của mình. Thằng Quý hằng năm vẫn sửa soạn ba lô về quê ăn giỗ mình, háo hức cứ như hồi còn sống được đi tranh thủ sau đợt bắn đạn thật đạt điểm cao.
     Căn hộ của mẹ tôi bé xíu, không có nhà xí riêng, ở trên tầng năm của khu tập thể. Hồi còn bé, nửa đêm phải đi xuyên qua dãy hành lang lạnh lẽo hun hút gió, tối như hũ nút để đến được cái nhà xí dùng chung của mấy hộ gia đình là nỗi kinh hoàng của tôi. Không phải lần nào tôi cũng đến được đích an toàn, mà thường xuyên tè dầm dọc đường vì sợ ma. Tôi ao ước có một cái bô nhưng mẹ không mua. Mẹ bảo muốn rèn luyện tôi thành một người đàn ông mạnh mẽ.
     Mẹ làm công tác xã hội ở phường. Hình như ở hội phụ nữa gì đó. Ban ngày mẹ đi họp, tối đến các gia đình tuyên truyền về sinh đẻ có kế hoạch, về chính sách mới hoặc bài trừ mê tín dị đoan. Mẹ rất bận.
     Nhà chỉ có hai mẹ con, bố hy sinh ở chiến trường B. Hồi đầu chỉ được báo là mất tích. Mãi chẳng thấy ông về, sau giải phóng người ta làm lễ truy điệu liệt sỹ cho ông. Đến ngày tôi nhập ngũ, mẹ tôi vẫn chưa biết mộ ông nằm chính xác ở đâu.
     Một ngày cuối hè, cái ngày mà tôi nhận được tin trượt đại học, mẹ đi làm về gọi tôi lại, bảo: “Thắng này, mẹ đăng ký cho con nhập ngũ đợt này”. Tôi ngơ ngác: “Nhà mình thuộc diện chính sách. Sao con phải đi?” Mẹ mở túi, lấy ra một tập tài liệu đánh máy, mắt vẫn dõi theo những dòng chữ, mồm thủng thẳng: “Ở nhà lêu lổng rồi lại hư mất”. Tôi năn nỉ: “Mẹ cho con thi đại học một năm nữa”. Mẹ vẫn cắm cúi với đống giấy tờ, lạnh lùng nhắc lại: “Mẹ đã đăng ký cho con rồi”.
     Tôi biết tính mẹ. Mẹ đã phải thay bố vật lộn nuôi tôi, cuộc sống và công việc bắt bà phải hà khắc với chính bản thân mình và con cái. Tôi lại là thằng nhút nhát, từ bé chưa bao giờ dám cãi lời mẹ. Tôi ngậm ngùi chấp nhận sự sắp đặt của bà.
     Trước ngày nhập ngũ, phường tổ chức một buổi mít tinh tiễn đưa tân binh lên đường. Mẹ cùng hội phụ nữ tặng quà cho chiến sỹ. Mỗi người được hai cái khăn mặt bông và hai tuýp thuốc đánh răng Bông Lan cứng như đất đồi. Khi trao quà cho tôi, mẹ giơ tay ra bắt, lắc lắc mấy cái, nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng rất quan cách: “Chúc đồng chí chân cứng đá mềm, hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc”. Tôi không dám nhìn mẹ, tôi cúi đầu xuống lí nhí câu cảm ơn. Tôi thấy mẹ xa lạ vô cùng!
     Hôm sau tôi lên đường. Sân vận động gần nhà, nơi tôi vẫn đá bóng buổi chiều, chật ních tân binh và người thân đưa tiễn. Đơn vị về lấy quân mang theo rất nhiều vệ binh. Người ta đọc tên và từng người bước lên xe trong vòng tròn mà đám vệ binh đứng làm hàng rào. Những chàng trai ngày thường đá bóng vẫn hùng hổ bắt nạt tôi, bỗng mềm yếu một cách kỳ lạ, thò đầu qua cửa xe, nức nở khóc.
     Mẹ không đưa tiễn tôi. Sáng hôm ấy mẹ bận việc, bà phải đi hòa giải cho một đôi vợ chồng muốn ly dị. Tôi rất muốn mẹ có mặt ở đây, vào lúc này.
* * *
     Cái hang Giời Đánh là nhà của tôi và Quý. Thực ra trước đây nó không có tên, hoặc có tên mà chúng tôi không biết. Lính tráng đặt tên cho cái hang này sau cái chết của chúng tôi.
Hồi ấy đơn vị tôi nhận nhiệm vụ tái chiếm một số điểm cao trong dãy núi đá vôi của mặt trận. Chỉ huy đã cho tập kết một lượng thuốc nổ khá lớn trong hang để phục vụ công tác chiến đấu. Quý là chiến sỹ bám trụ trên hang trước tôi. Tôi mới được điều lên sau vụ trốn đơn vị về ăn Tết. Nếu so với cánh lính trận nói chung, thì công việc coi kho này thật an toàn và nhàn hạ. Ban ngày chúng tôi ngủ, tối thức nhận hàng của cánh vận tải gùi lên. Địa hình ở đây hiểm trở và ngay sát nách địch, nên cánh vận tải chỉ có thể hoạt động vào ban đêm.
     Cái hang này không lớn, rộng độ vài mét và sâu hơn hai chục mét. Trên vòm hang, nhũ đá tua tủa chĩa xuống như những tấm sừng lọc thức ăn của con cá voi khổng lồ. Trong cùng hang có một ngách nhỏ bằng phẳng như lát bằng phiến đá to. Lòng hang rộng chúng tôi dùng làm kho, còn cái ngách nhỏ để ngủ.
     Tôi nhớ rất rõ hôm ấy là ngày mười bốn tháng giêng, trời lạnh và mưa phùn. Đêm hôm trước chúng tôi nhận được một chuyến hàng lớn, cánh vận tải đông và hối hả hơn mọi khi. Những thùng gỗ thông màu xanh xếp chật lối đi. Sau khi kiểm đếm vào sổ sách xong thì trời sáng, chúng tôi chui vào ngách hang bắt đầu ngủ. Pháo địch bắn mạnh và nhiều hơn mọi hôm, tôi nghe thấy từng chặp, nổ từng loạt dài rền rền không dứt. Mạnh đến mức chúng tôi cảm nhận rõ sự rung rung chấn động của vách hang.
     Ấy vậy mà chỉ năm phút sau chúng tôi chết, bất đắc kỳ tử như bị giời đánh. Cái chết không anh dũng, cũng chẳng hèn nhát nhưng lại nhạt toẹt. Một khối nhũ đá to hơn cột đình đã bị đứt chân do chấn động của cơn mưa đạn pháo, rơi thẳng xuống kích nổ đống vũ khí đạn dược bên dưới. Khối lửa bùng lên, tôi và Quý bị ép chết ngay lập tức. Ngách hang bị đá vùi kín mít. Lòng hang nóng bỏng, khói lửa quánh đặc như trong lò bát quái.
     Vụ nổ khiến lòng hang biến dạng, vách hang rộng ra, vòm hang trơn tuột chẳng còn lấy một thanh nhũ đá, cứ như thể đứng trong một quả trứng khổíng lồ vậy.
     Chúng tôi sang thế giới bên kia nhanh quá, chỉ trong nháy mắt, không từ từ, không hấp hối. Tim thôi đập và não ngừng hoạt động đến rụp một cái như tắt công tắc điện. Hồn tôi và Quý lìa khỏi xác, bật dậy nhìn nhau, rồi nhìn hai cái xác nát bét ri rỉ máu chảy của mình đang bị đá vùi lấp. Cả hai thằng đều không tin là thể xác mình đã chết, mình đã thành ma. Chúng tôi nhập lại vào xác, cố gắng lắm cũng không khiến được cái xác ấy cử động. Lạ thật! Vẫn thấy mình như đang sống, không chút đau đớn và có thể đi và nhìn xuyên qua vách núi.
     Vậy là tôi đã thành ma. Ở những quả núi gần đó còn nhiều con ma khác, chúng đang ngủ. Ngày của dương gian là đêm của ma. Hai thằng chúng tôi chợt buồn ngủ rũ mắt, lục tục kéo nhau vào cái ngách hang đã bị bịt kín để tiếp tục giấc ngủ vừa bị cướp mất.
     Ngủ một trận no mắt thì cánh vận tải mò lên. Mọi ngày giờ này cũng phải dậy để còn nhận hàng. Hôm nay cánh vận tải không gùi không khiêng gì cả, họ chỉ có đòn tre và võng, công cụ để vận chuyển thương binh tử sỹ. Họ lên tìm xác chúng tôi.
     Một tay đứng trên đống đá vỡ vụn, soi đèn pin nhìn vòm hang nhẵn thín, thở dài: “Còn cái gì đâu, thành tro bụi cả rồi”.
     Hai thằng chúng tôi thấy vậy gào toáng lên: “Ở đây, chúng tao ở đây”. Chúng tôi lồng lộn tìm mọi cách để báo hiệu nhưng người dương không nghe được tiếng người âm. Đám ấy như điếc lác cả một lũ với nhau. Chúng nhìn ngó một chặp, lấy đòn tre bới bới chọc chọc mấy cái rồi lắc đầu ngao ngán bỏ về.
* * *
     Chết rồi tôi vẫn không nguôi giận mẹ.
     Chỉ hai tuần trước đấy, mười giờ tối đêm ba mươi Tết tôi bò về đến nhà sau một chặng đường dài trốn tránh lực lượng kiểm soát quân sự. Mẹ đang làm cơm cúng tất niên, ngẩng lên thấy tôi lù lù đứng giữa nhà. Mẹ lạnh lùng hỏi: “Bỏ ngũ hả?” Tôi im lặng, không dám trả lời mà nhìn lên bàn thờ cầu cứu bố tôi. Trên ấy, khói hương nghi ngút, ánh mắt bố như hư ảo, không ấm cúng mà cũng chẳng ra lạnh lùng.
     Tôi lăn ra ngủ vì mệt.
     Pháo giao thừa nhà hàng xóm đã nổ. Hé mắt thấy mẹ đang lui cui đứng trên chiếc ghế đẩu treo bánh pháo ngoài cửa. Tôi định dậy thì đã thấy mẹ xòe diêm. Tiếng pháo ròn rã nổ váng óc. Ánh lửa lập lòe trong mắt mẹ.
     Tôi quay lưng lại, trùm chăn lên đầu và ngủ tiếp. Mùng một, mẹ không nỡ mắng đâu mà lo.
     Khoảng bốn giờ sáng, mẹ lay tôi: “Thắng, dậy đi cho sớm”. Tôi nhỏm dậy, giọng ngái ngủ hỏi lại: “Đi đâu hả mẹ?” Mẹ quàng cái khăn len lên đầu, thít mạnh một cái đầy vẻ cương quyết, nói: “Về đơn vị, mẹ sẽ đi cùng con”. Nói xong mẹ đứng lên, buộc túi bánh và con gà cúng lên ghi đông xe đạp.      Trong lòng ấm ức vô cùng nhưng tôi không dám trái lệnh mẹ.
     Đường phố Hà Nội sớm mùng một vắng tanh, phủ dày một lớp xác pháo. Thảng hoặc mới gặp một đôi trai gái đi chơi giao thừa về muộn trên chiếc xe Cub nổ pành pành. Cô gái ngồi sau thò tay vào túi áo khoác của bạn trai, ôm chặt, đầu giụi vào vai co ro vì rét. Mùi sương mai, mùi hương trầm, mùi thuốc pháo quyện vào nhau ngan ngát hăng hắc, ra mùi của Tết.
     Hai mẹ con đèo nhau ra bến Nứa tìm xe khách với hy vọng mong manh. Những chiếc xe im lìm đỗ trong bóng đêm. Bến xe vắng lặng không một bóng người. Không tiếng rao đêm, không kẻ nhỡ độ đường, không cảnh chen lấn xô đẩy leo lên xe. Mẹ chạy đôn chạy đáo rút cục cũng tìm được người bảo vệ bến xe để hỏi. Kết quả như đã được đoán: không còn chuyến xe nào.
     Mẹ đi ra, tóm lấy ghi đông xe từ tay tôi, lắc lắc mấy cái, rồi lại kéo lên dậm xuống như muốn kiểm tra độ chắc chắn của chiếc xe cà khổ. Mẹ nói: “Đi bằng xe đạp. Hai mẹ con mình thay nhau cho đỡ mệt”.
     Nói thế nhưng mẹ lại đạp xe hướng vào thành phố. Tôi ngồi sau, hồ nghi: “Đi đâu thế mẹ?” Mẹ dứt khoát: “Lên đơn vị”. Tôi bảo: “Đây là đường về nhà”. Mẹ tôi như sực tỉnh, hấp tấp quay đầu, đổ xe.   Tôi nhìn thấy ánh đèn đường phản chiếu trên gò má mẹ, trong một giọt nước đang lăn xuống.
     Gió bấc lùa hơi nước từ dưới dòng sông lên lạnh buốt. Gió quất vào thành cầu ù ù. Tiếng quèn quẹt đều đặn của xích xe cọ vào gácđờxen cộng với tiếng rin rít của đôi pêđan khô dầu vang lên trong đêm tối mịt mùng nghe như tiếng ma hờn. Mẹ con tôi lùi lũi đạp xe vượt sông Hồng. Lúc này tôi mới khóc, vì giận mẹ hay thương mẹ? Có lẽ là cả hai. Sao mẹ không cho con ở lại ăn Tết rồi con sẽ đi. Con muốn ở nhà với mẹ.
     Cứ kỳ cạch đạp xe như thế đến gần trưa thì tôi nghe thấy tiếng động cơ ì ì từ phía sau. Mẹ nhảy phắt xuống, đứng giữa đường quơ quơ tay chặn xe xin đi nhờ. Đó là chiếc xe Zil 130 mang biển quân sự, chở nhu yếu phẩm cho chiến sỹ trên biên giới. Tay lái xe hơn tôi vài tuổi, quân phục nhầu nhĩ, cẩu thả. Sau khi nghe mẹ tôi trình bày lý do, hắn cười ngất và đồng ý ngay tắp lự. Hắn giúp tôi treo chiếc xe đạp lên đằng sau thùng xe, buộc cố định lại. Xong hắn nháy mắt cười, châm chọc: “Ta lại lên đơn vị ăn Tết, hả?”
     Đêm hôm ấy mẹ con tôi lên tới đơn vị. Mẹ giao tôi cho đại đội rồi lên tiểu đoàn thưa chuyện với chỉ huy. Sáng hôm sau mẹ nhất quyết đòi về, chả ai can được mẹ. Tôi dõi theo dáng mẹ liêu xiêu đạp xe xa dần cho đến khi mất hẳn. Đó là hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy mẹ khi còn sống.
     Buổi chiều tôi nhận được lệnh tăng cường lên hang trông kho thuốc nổ.
* * *
     Tắt tiếng súng, cuộc sống ở chỗ chúng tôi cũng thay đổi dần. Không còn những người bạn mới xuất hiện. Những con ma hàng xóm cũng dần dần bị đội quy tập phát hiện rồi chuyển đi. Người ta xây một cái nghĩa trang to như khu đô thị cách đây mấy chục cây số. Xương cốt nằm đâu thì nhà ở đấy, Quý thỉnh thoảng xuống chơi với anh em rồi lại về. Tôi cũng kịp hiểu một điều, trong thế giới của chúng tôi, không phải ai cũng là anh hùng, không phải ai cũng đến thế giới này bằng cái chết oanh liệt. Tuy vậy, tất cả đều được đối xử bình đẳng. Có lẽ đó là điều dễ chịu nhất mà chúng tôi có thể tự hào về thế giới của mình.
     Quý về quê ăn giỗ, lên mặc bộ đồ rất lạ, trông như quần áo của chú rể nhưng mầu lòe loẹt, cổ thắt một cái nơ trông rất Tây. Nó chạy chiếc xe máy màu mận chín đỗ xịch trước cửa hang, vẫn ngồi trên xe, lấy gót chân trái gạt chân chống rất điệu nghệ, gọi toáng lên: “Thắng ơi… Thắng”.
Tôi nhìn Quý không nén được cười. Quý kéo tôi lại chiếc xe, đẩy tôi ngồi lên rồi bảo: “Chạy thử đi, tiện lắm”. Tôi bảo: “Oách nhỉ, xe này chắc đời mới. Hồi tao với mày đi lính, nhà giàu mới có cái xe tám mốt kim vàng giọt lệ”. Quý phấn khích: “Thay đổi lắm, mày không tưởng tượng được đâu. Nhà tao năm nay khấm khá hơn, các cụ mới đốt cho tao chiếc xe này”.
     Nói rồi Quý thần mặt ra, nhìn tôi bối rối như lỡ lời. Giọng nó trầm hẳn xuống, gần như là thì thào: “Sao mày không về thăm nhà?” Tôi không trả lời, chui vào ngách hang nằm. Quý mang cái xe máy xuống để dưới chân núi, mặc lại bộ quần áo cũ rách te tua, rồi chui vào nằm cùng tôi. Chẳng ai nói thêm một lời nào.
     Thực ra là tôi đã từng về thăm nhà. Quý đi hôm trước thì hôm sau tôi cũng về, đúng hôm giỗ mình.
     Tôi về đến nhà khi ấy trời đã tối. Cái hành lang hun hút năm xưa khiến tôi bật cười, chả có con ma nào ngoài chính tôi. Mẹ không có nhà. Mâm cơm cúng tôi đã nguội ngắt. Hương cháy rụi đến chân. Đồ cúng không có tiền vàng, không có quần áo mới. Tôi đang phải mặc chiếc áo bị hơi nổ xé rách như tổ đỉa nhiều năm nay, cũng thấy chạnh lòng.
     Trong góc nhà, những tuýp thuốc đánh răng và khăn mặt bông được gói thành những suất quà. Tên thuốc đánh răng lạ hoắc chứ không phải Bông Lan như thời tôi nhập ngũ. Hình ảnh của mẹ khi bắt tay trao quà lại hiện về như mới hôm qua. Cơn hờn giận trào lên, tôi không đợi mẹ nữa, phi một mạch về núi rồi nằm lì trong hang cho đến khi Quý lên.
* * *
     Mẹ lên tìm tôi. Cũng đúng vào dịp Tết xong, tôi nghe oang oang có giọng người ngoài cửa hang. Cái giọng quen quen, khuôn mặt của một người đàn ông như đã gặp đâu đó mà không thể nhớ ra. Đi sau là một người phụ nữ, vất vả trèo lên những bậc đá. Mẹ, đúng là mẹ tôi. Tôi định ào ra đón mẹ, nhưng nỗi giận hờn lại dìm tôi xuống, khóa chân tay tôi cứng đờ. Tôi nép vào vách đá như chạy trốn, mặc dù tôi có đứng trước mặt thì mẹ cũng không thể nhìn thấy tôi.
     Người đàn ông kéo mẹ tôi lên miệng hang, chỉ: “Đây cô ạ. Chính là ở cái hang này. Lúc chúng cháu lên, chỉ còn toàn đá vụn”.
     Tôi đã nhận ra hắn là ai, chính là tay lính vận tải năm xưa. Người chết không có tuổi, nhưng người sống thì già đi theo năm tháng.
     Bao nhiêu năm rồi nhỉ? Mười năm kể từ cái đận mẹ đưa tôi về đơn vị để rồi tôi chết nhạt toẹt trong cái hang này. Mười năm khiến mẹ tôi già sụp đi. Tóc mẹ bạc phân nửa. Động tác của mẹ đã chậm chạp đi rất nhiều, nhưng vẫn dứt khoát mang dáng dấp của một người phụ nữ mạnh mẽ và quyết đoán.
     Mẹ ngồi lặng lẽ thắp hương. Không khóc, không sì sụp khấn vái, mắt nhắm lại như thể hóa thạch. Tôi tấm tức khóc vì vẫn giận mẹ.
     Một lúc thì mẹ về. Thằng Quý thấy tôi như vậy cũng không cười nói hi ha như mọi khi, nó đi ra đi vào mà chẳng biết làm gì.
     Mấy hôm sau Quý bảo: “Chắc là cả kiếp ma ta ở cái hang này. Chẳng ai biết trong hang này vẫn còn xương cốt của ta. Mày cứ định như vậy mãi sao? Ra ngoài cho khuây khỏa rồi về thăm nhà đi. Lấy xe của tao mà đi cho tiện”.
     Tôi nghe lời nó. Đi lại thăm bạn bè, nhưng không về thăm nhà.
     Cuối năm ấy mẹ lại lên. Lần này đi rất đông, đủ cả cánh vận tải đêm xưa lên tìm xác chúng tôi, thêm một tay đại úy ở ban chính sách của tỉnh đội và một phụ nữ là nhà ngoại cảm.
Người phụ nữ nhắm mắt, lầm bầm cái gì đó trong miệng rồi bất chợt mở to đôi mắt ra. Tôi nhìn thấy mắt cô ta mầu xanh lục, sáng quắc như hai cái bóng đèn. Cơ thể của cô ta dần dần biến đổi, những mạch máu, dây thần kinh trông như búi dây điện. Nội tạng thành những bảng mạch và bóng đèn nhấp nháy. Cô ta như một cái vô tuyến, hoặc là cái điện thoại chứ không phải là con người bằng da bằng thịt.
     Tôi và Quý ngồi yên một chỗ. Chưa bao giờ chúng tôi gặp một người kỳ lạ như vậy. Hình như cô ta đã nhìn thấy chúng tôi. Cô thông báo với mọi người: “Ở đây có hai vong. Trong ngách hang đằng kia”.
     Mọi người nghe vậy nháo nhác.
     Cô ta hỏi tôi và Quý:
     - Hai vong tên gì?
     Tôi bảo:
     - Nguyễn Quyết Thắng – Tôi chỉ sang Quý – Còn thằng này là Nguyễn Đình Quý.
     Thằng Quý mắt tròn vo, mồm dẩu ra vì ngạc nhiên, sợ rúm lại chẳng nói được câu nào.
     Cô ta dịch lại lời của chúng tôi cho mọi người nghe. Mẹ tôi khuỵu xuống bất tỉnh. Tay đại úy giở sổ ra đọc gì đó, trời lạnh mà mồ hôi vã ra như tắm, gật đầu lia lịa: “Đúng rồi, đúng rồi”.
     Họ bắt đầu đào bới cái ngách hang bị vùi lấp hơn chục năm. Một lúc sau thì mẹ tôi tỉnh. Mẹ gào lên: “Thắng ơi. Con ở đâu?” Tôi nói dỗi: “Con không về đâu”. Mẹ lao vào đống đá, dùng tay cào đá bật cả máu tươi. Mẹ khóc. Lần thứ hai tôi nhìn thấy nước mắt mẹ. Lần đầu lúc mẹ đánh đổ xe sớm mùng một Tết năm nào. Nhưng khóc thành tiếng thế này thì bây giờ mới thấy. Mẹ nức nở, không ngớt điệp khúc: “Con không về, mẹ chết không nhắm được mắt”. Khuôn mặt bà đau đớn, co rúm lại, toàn thân run bần bật khiến tôi thấy mình thật tàn ác.
     Ánh sáng từ mắt của người phụ nữ ngoại cảm đã tắt. Búi dây điện lại trở thành mạch máu và dây thần kinh. Người ta không duy trì trạng thái này được lâu vì rất mệt. Cô ta trở về như những người bình thường và không thể nghe được chúng tôi nữa.
     Mẹ ngồi bệt xuống nền đá lạnh, tựa lưng vào vách hang, đầu ngoẹo sang một bên, thẫn thờ. Tôi ngồi bên cạnh, ngả hẳn vào mẹ, luồn tay ôm lưng như thời thơ dại. Hình như mẹ cảm nhận được điều ấy, quờ quờ tay mấy lần tìm tôi. Mặt mẹ đã bớt tái, có chút sắc hồng nhưng đôi mắt vẫn buồn rười rượi, nhìn vô định xa xăm.
     Đến trưa thì họ tìm thấy chúng tôi. Mẹ lại ngất khi nhìn thấy mảnh giấy có dòng chữ tôi viết tên tuổi, quê quán, đơn vị, hàn kín bằng ny lông rồi đút vào túi áo ngực trước khi lên hang. Mẹ bế từng khúc xương tôi vào lòng.
     Xương cốt của Quý được tỉnh đội chuyển về nghĩa trang liệt sỹ. Nó về với anh em dưới ấy nên vui ra mặt. Quý định diện bộ quần áo chú rể cho sang, nhưng người ta lại mặc cho nó bộ quần áo khác, mầu đỏ có ngôi sao vàng ở ngực. Nó ngắm nghía bộ cánh mới và cũng thấy hài lòng.
* * *
     Mẹ xin cho tôi về quê. Mẹ đã xây căn nhà ba gian trên quả đồi nhỏ, ở một vùng quê yên bình, nơi trước kia cả cha mẹ tôi từng sinh ra và lớn lên. Mẹ cũng đã tìm thấy cha và đưa ông về đây. Tôi ở gian bên trái, cha tôi ở gian bên phải. Gian giữa đóng khóa im ỉm. Trong buồng của tôi, mẹ đặt một cái bô tráng men trắng toát. Mẹ vẫn nhớ mong ước của tôi thiếu thời.
     Cha không già hơn tôi là bao nhiêu. Khi ông chết cũng mới chỉ ngoài hai mươi tuổi. Cha nhìn tôi, vỗ vỗ lên vai bảo: “Cha rất hiểu con”. Tôi không biết cha hiểu gì. Khi còn sống, chưa bao giờ tôi được gặp cha. Như đoán được sự nghi hoặc trong ánh mắt tôi. Cha trầm ngâm, giọng buồn buồn: “Đừng giận mẹ”. Ánh mắt cha lúc này khác hẳn, nồng ấm yêu thương chứ không hờ hững như trên bức ảnh năm xưa.
     Hai cha con nằm ngắm bầu trời dày đặc sao. Có những ngôi sao sáng quắc, có những ngôi sao lập lòe như sắp tắt, còn cả những ngôi sao đã tắt mà mắt ma không nhìn thấy, như thể chúng cũng là những thân phận ở một thế giới khác nữa.
     Một thời gian sau thì mẹ tôi mất. Tôi không bao giờ biết chính xác lý do gì khiến mẹ chết. Đó là bí mật của riêng mẹ. Cha con tôi đón mẹ về căn buồng giữa.
     Mẹ vồ lấy tôi. Chỉ khóc.
     Hôm ấy cũng là mười bốn tháng giêng, trời lạnh căm căm và mưa phùn ẩm ướt.
__________

"Bóng anh hùng" khốn khổ bởi kiểu đọc quy chụp
NHÓM PHÓNG VIÊN VHVN | 20/03/2013 07:33 (GMT + 7)
TT - Dù đã đăng trên các báo trung ương và được in thành sách, nhưng khi truyện ngắn Bóng anh hùng được đăng lại trên báo Phú Yên đã bị một số người cho là tác phẩm độc hại, phản động, khiến ban biên tập báo này phải kiểm điểm.

     Ngày 19-3, ông Phạm Ngọc Phi - tổng biên tập báo Phú Yên - cho biết sau cuộc kiểm điểm (ngày 14-3), ông và ban biên tập đang chờ phán quyết của cấp trên về việc có bị kỷ luật hay không.
Độc hại, phản động?
     Bóng anh hùng (*) - truyện ngắn của Doãn Dũng - là tự sự về người mẹ, về gia đình và hậu phương của một người lính ngã xuống trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Truyện đăng trên tuần báo Văn Nghệ(cơ quan Hội Nhà văn VN) số ra ngày 8-8-2009, đăng trên báo Ðại Biểu Nhân Dân (cơ quan ngôn luận của Văn phòng Quốc hội) số 55 ngày 24-2-2010 và sau đó được in trong tập truyện ngắn cùng tên của tác giả do Nhà xuất bản Thời Ðại ấn hành (tháng 10-2012). Truyện này được in lại trên báo Phú Yên cuối tháng 9 và 10-2012.
     Ngay sau khi đăng trên báo Phú Yên, thường trực Tỉnh ủy Phú Yên nhận được nhiều ý kiến, đơn thư của các ông Vũ Văn Thoại - nguyên trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên, Nguyễn Tường Thuật - nguyên chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên và các cán bộ hưu trí, cựu chiến binh: Trần Hành Chính, Huỳnh Cửu, Nguyễn Tiến Lẫm... có chung quan điểm cho rằng truyện ngắn Bóng anh hùng là độc hại, phản động và cần phải xử lý những người cho đăng truyện này lên báo tỉnh. Ngoài ra, còn có một “Thư gửi tòa soạn báo Phú Yên - phòng bạn đọc và nữ nhà báo Lâm Vy” (người viết bài Doãn Dũng - nhiều người trong một trên báo Phú Yên) ký tên Mẹ Hòa Hiệp - Ðông Hòa, nội dung mỉa mai và mạt sát nhà báo Lâm Vy.
     Ban biên tập báo phải giải trình, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy phải giải thích rằng không có cơ sở để nói truyện ngắn Bóng anh hùng là phản động, song những người có đơn thư vẫn tiếp tục có ý kiến đề nghị thường trực Tỉnh ủy phải có kết luận về việc cho đăng truyện ngắn “phản động” này là sai trái và phải kỷ luật ban biên tập báo Phú Yên. Thường trực Tỉnh ủy yêu cầu báo Phú Yên tổ chức buổi đối thoại với những người phản ứng để giải tỏa dư luận.
Về tác giả Doãn Dũng, ông Vũ Văn Thoại chất vấn: “Doãn Dũng là một anh chàng tốt mã thích cưa gái đẹp có chồng. Sao người ta có chồng mà đi cưa (trong bài báo Doãn Dũng - nhiều người trong một có đoạn: “Nhân vật của anh (tức nhà văn Doãn Dũng - PV) cũng rất đa dạng: một anh chàng tốt mã thích cưa gái đẹp đã có chồng...”)? Anh cổ xúy cho chuyện phá hoại gia đình. Vậy mà Ban tuyên giáo không biết à?”.
     Cuộc đối thoại được tổ chức tại phòng họp Tỉnh ủy ngày 19-1-2013 do báo Phú Yên chủ trì, có sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan liên quan, các vị nguyên là lãnh đạo tỉnh, những người có đơn thư. Tại cuộc họp, ông Vũ Văn Thoại nhận định: “Một người không còn khả năng nhìn thấy ánh sáng nữa, nhưng khi con cháu họ đọc tác phẩm Bóng anh hùng thì không ai không thấy rằng đây là tác phẩm cực kỳ độc hại, cực kỳ phản động. Tui nói hồi xưa, chiến tranh, nếu đọc cái này thì đem cắt cổ”.
     Ông Thoại yêu cầu: “Tôi đề nghị thường trực, thường vụ Tỉnh ủy phải họp, phải nghe chúng tôi và phải có kết luận đúng sai. Còn các anh lấy kết luận ở đâu tùy các anh. Hễ các anh nói đúng là được lòng công luận và tình hình sẽ yên ổn, còn nếu các anh nói sai thì công luận sẽ tiếp tục. Ðừng lấy ở đâu đó về áp tụi tui, áp không thấu đâu. Ðừng áp. Ông này ông kia mặc kệ. Ổng chức tước quyền hành kệ ổng, nhưng mà ổng nói tầm bậy, nói sai là không chấp nhận. Bởi vì sao? Giấy trắng mực đen con chữ không ai chối được. Chết “nhạt toẹt” (chữ trong truyện Bóng anh hùng - PV) là gì, không nguy hiểm à?”.
     Không đến dự được buổi đối thoại này, nhưng ông Nguyễn Tường Thuật có gửi ý kiến tham gia cho rằng tổng biên tập báo Phú Yên nên có lời xin lỗi các mẹ VN anh hùng và gia đình liệt sĩ vì cái “bóng anh hùng” kỳ dị đã làm tổn thương họ và xử lý kỷ luật những người dưới quyền có liên quan. “Làm như vậy sẽ tốt và sự việc cũng được thu xếp ổn thỏa. Riêng cá nhân tôi, dù tuổi cao sức yếu vẫn sẵn sàng góp một tiếng nói vào câu chuyện này trên mọi phương diện... Tôi tin chắc những ai bảo vệ Bóng anh hùng đều không thể đứng vững” - ông Thuật quyết liệt.
     Cũng ngay trong cuộc họp, có những quan điểm không đồng ý với những ý kiến trên. TS Nguyễn Thành Quang - nguyên bí thư Tỉnh ủy Phú Yên - cho rằng cốt truyện Bóng anh hùng cảm động, đọc xúc động. “Tôi có nghe báo này báo kia đăng không sao, nhưng báo Phú Yên đăng thì bị quở trách. Tôi không phán xét rằng chuyện đó đúng hay sai nhưng với tư cách là một độc giả, nhận thức, cảm nhận tác phẩm này, tôi thấy trong truyện người mẹ không tự xưng là anh hùng mà chính người đọc tôn vinh bà mẹ là một bà mẹ anh hùng chứ không có gì phỉ báng cả” - ông Quang nhận định.
     Ông Huỳnh Như Ngân - phó giám đốc Sở Thông tin - truyền thông Phú Yên - nói rằng lúc đầu đọc truyện thấy ám ảnh khó chịu, nhưng càng đọc thì thấy tính nhân văn của tác phẩm. “Tính nhân văn ở chỗ mọi bà mẹ, mọi người cha, người anh có người thân hi sinh đều mong muốn cuối cùng người thân mình có mồ yên mả đẹp, nếu không tìm được là nỗi băn khoăn day dứt” - ông Ngân phân tích.
Không sai phạm về nội dung
     Sau cuộc đối thoại, ngày 6-3-2013 Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên có công văn truyền đạt thông báo kết luận của thường trực Tỉnh ủy xử lý việc duyệt, đăng các truyện ngắn, bài viết gây dư luận không tốt trên báoPhú Yên, trong đó có truyện ngắn Bóng anh hùng và giao Ban tuyên giáo chủ trì cuộc kiểm điểm. Tại cuộc kiểm điểm ngày 14-3, tổng biên tập báo Phú Yên đã nhận thiếu sót: “Ðây là một tác phẩm tốt, tuy nhiên khi đăng đã không lường được còn có những phản ứng trái chiều gay gắt của một số độc giả dẫn đến tạo dư luận không tốt”. Cuộc họp có 100% người bỏ phiếu không áp dụng hình thức kỷ luật ban biên tập và tổng biên tập.
     Phúc đáp công văn ngày 6-3 của Tỉnh ủy Phú Yên về việc cho ý kiến truyện ngắn Bóng anh hùng, công văn của Ban Tuyên giáo trung ương do ông Nguyễn Thế Kỷ ký ngày 12-3 viết: “Sau khi nghe ý kiến trao đổi của các đơn vị liên quan (Vụ Văn hóa - văn nghệ, Vụ Báo chí - xuất bản, Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương) và cơ quan chuyên môn (Hội Nhà văn VN), Ban Tuyên giáo trung ương có ý kiến như sau:
     “Truyện ngắn này không có gì đặc biệt và sai phạm về nội dung và hình thức. Truyện đề cập đến tình yêu của người mẹ, tuy có phần khắc nghiệt nhưng ẩn giấu trong đó là tình yêu, là ý thức trách nhiệm của một công dân đối với Tổ quốc.
     Một trong những đặc trưng của tác phẩm văn học là tính hư cấu. Khi đánh giá xem xét một tác phẩm văn học cần chú ý đến đặc trưng này. Vì thế khi đọc Bóng anh hùng, cần có thái độ khách quan đánh giá tác phẩm, đồng cảm với lao động sáng tạo của nhà văn, tránh sự suy diễn chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, hoặc quy kết tác phẩm có nội dung độc hại, phản động. Ðề nghị Tỉnh ủy Phú Yên chỉ đạo, chủ động xử lý việc trên, ổn định tình hình tư tưởng trên địa bàn tỉnh liên quan đến truyện ngắn Bóng anh hùng”.
     Trước đó, vụ trưởng Vụ Văn hóa - văn nghệ (Ban Tuyên giáo trung ương) cũng đã có công văn gửi Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên nêu ý kiến: “Không nên quy kết tác giả có ẩn ý này khác”.
     Dõi theo sự mệt mỏi của báo Phú Yên với truyện ngắn Bóng anh hùng, nhiều người cầm bút ngán ngẩm và lo ngại không biết bao giờ mới hết kiểu đọc văn thơ quy chụp như thế này, bởi đây không phải là chuyện lần đầu xảy ra ở Phú Yên.
Nhà văn Nguyễn Trí Huân - phó chủ tịch Hội Nhà văn VN, tổng biên tập báo Văn Nghệ, tờ báo đã đăng truyện ngắn Bóng anh hùng vào năm 2009 với cái tên Hồi quang - đã ký công văn số 391/CV-BVN ngày 22-12-2012, gửi các cơ quan ở tỉnh Phú Yên, trong đó cho biết: “Khi đăng tải trên báo Văn Nghệ, suốt ba năm qua chúng tôi không nhận được hồi âm nào phản ảnh tiêu cực về truyện ngắn kể trên.
Theo đánh giá của chúng tôi, truyện ngắn Bóng anh hùng hay Hồi quang là một truyện ngắn có chất lượng. Tác giả đã cố gắng thoát khỏi cách viết khuôn sáo quen thuộc để đề cập, ca ngợi phẩm chất của một người mẹ yêu con, thương con, nhưng cao hơn cả là tình yêu Tổ quốc, trách nhiệm đối với Tổ quốc. Và tình yêu có vẻ khắc nghiệt của người mẹ đã đánh thức ý thức của người con, hóa giải dần những hiểu lầm của người con đối với mẹ. Một truyện ngắn cảm động, mới mẻ khi đề cập đến chiến tranh cũng như văn học viết về chiến tranh. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi một số cán bộ hưu trí, cựu chiến binh có cách đánh giá nặng nề, không thỏa đáng về truyện ngắn này”.

Trọng một cách viết, trách một cách đọc 
NGUYỄN THẾ THANH | 22/03/2013 09:48 (GMT + 7)
     TT - Tôi đọc truyện ngắn Bóng anh hùng của Doãn Dũng muộn hơn rất nhiều người, vào một buổi trưa công sở yên ắng.
     Câu chuyện của một hồn ma chiến binh còn rất trẻ, lại là đứa con duy nhất của một gia đình liệt sĩ, đã lay động mạnh trái tim tôi và kéo tôi đi một mạch đến dòng cuối cùng. Không một chi tiết nào của truyện gợi lên “sự khinh miệt”, “sự phỉ báng”, “sự đớn hèn”.
     Tràn ngập trong từng trang truyện là niềm xúc động về cách thể hiện tình yêu mà người mẹ và cũng là người vợ liệt sĩ dành cho con trai duy nhất của mình: kiên quyết đưa con nhập ngũ, kiên quyết đưa con trở lại đơn vị vào mùng 1 tết để không vi phạm điều lệnh quân đội, kiên quyết đi làm nhiệm vụ thăm tết các gia đình chính sách vào đúng ngày giỗ con.
     Tưởng như tình yêu ấy quá “gỗ đá” nếu như không có các chi tiết truyện lay siết trái tim người đọc đến rơi nước mắt, như chi tiết người mẹ quyết liệt dùng xe đạp chở con trở lại đơn vị vào sáng sớm mùng 1 tết, nhưng khi lên xe thì hướng mà bà đạp tới lại là hướng ngôi nhà của mình, chỉ đến khi con trai nhắc bà mới sực tỉnh quay đầu xe!
     Thì ra tận đáy lòng người mẹ “gỗ đá” ấy, quán tính thông thường vẫn là nỗi khát khao được cùng con đón tết tại căn nhà vốn đã quanh năm hiu quạnh bóng chồng, bóng con.
     Hay như chi tiết này nữa: khi đồng đội tìm thấy hài cốt của con trai trong cái hang mà anh đã ngã xuống “Mẹ ngất đi khi nhìn thấy mảnh giấy có dòng chữ tôi viết tên tuổi, quê quán, đơn vị hàn kín bằng nilông rồi đút vào túi áo ngực trước khi lên hang. Mẹ bế từng khúc xương tôi vào lòng”. Không còn được bế con vì nó đã chết trong khi làm nhiệm vụ vì Tổ quốc thì người mẹ ấy bế những gì còn lại của đứa con bà đã dứt ruột sinh ra.
     Trong trái tim người mẹ, không có sự hi sinh nào là “nhạt toẹt” khi đứa con biết rời mái nhà ấm cúng, thân thuộc của mình để đi về hướng Tổ quốc cần.
     Và tận đáy lòng, chẳng người mẹ nào lại cần danh hiệu này khác hơn chính đứa con sống cạnh mình bằng xương bằng thịt.
     Nếu không có những bà mẹ vĩ đại như bà mẹ trong truyện ngắn Bóng anh hùng và hàng triệu bà mẹ khác, nếu như không có những đứa con biết nghe lời mẹ đi làm nhiệm vụ và mất đi tính mạng vì nhiệm vụ ấy, đất nước chúng ta sẽ ra sao khi phải đi qua ngần ấy cuộc chiến tranh giữ nước dai dẳng và ác liệt?
     Vậy sao có thể hiểu rằng miêu tả nhân vật người chiến sĩ trẻ đã hi sinh trong truyện và người mẹ trong truyện là hạ thấp người lính và hậu phương người lính?
     Đọc những thông tin mấy hôm nay trên báo Tuổi Trẻ về truyện ngắn Bóng anh hùng, tôi càng thấm thía lời tự răn lấy mình khi còn đương nhiệm công tác quản lý văn hóa.
     Làm quản lý văn hóa tức là vừa làm cảnh sát vừa làm bà đỡ. Làm cảnh sát thì dễ rồi, cái gì sai quy định thì thổi còi. Nhưng làm bà đỡ thì không dễ chút nào.
     Cái đã quen, đã cũ thì cần gì tới sự đỡ đần. Cần đến vai trò của “bà đỡ” là ở chính những khi xuất hiện cái mới, cái chưa quen. Chưa cảm được, chưa hiểu được cái mới đâu phải chỉ do người sáng tạo ra nó, mà rất nhiều khi do sự giới hạn của người thưởng thức.
     Vậy nên chăng thay vì vội vã quy kết, chụp mũ cho tác giả, hãy bình tĩnh xem xét một cách công bằng năng lực sáng tạo và cả năng lực thưởng thức sự sáng tạo nữa.
     Với tôi, một người có cha hi sinh trong cuộc chiến tranh giữ nước và từng trải nghiệm công tác quản lý trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, tôi thật sự trân trọng cách viết độc đáo về chiến tranh của tác giả Doãn Dũng trong truyện ngắn Bóng anh hùng, và thật tiếc không thể không bày tỏ một lời trách về cách đọc không xuất phát từ văn chương của những bạn đọc nào đó.

Nguồn: Tuoitre