15 thg 3, 2013

Gạc Ma – Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ Biển Đông

By: Nhà văn Hồ Trung Tú
 
Loạt đạn đầu tiên từ súng 37ly bắn thẳng vào những chiến sĩ Hải quân công binh dầm mình trong nước tay không giữ đảo.
Trận Hải chiến Trường Sa - Gạc Ma xảy ra ngày 14/3/1988 có chín người sống sót sau cuộc thảm sát giữa một bên tay không giữ đảo và một bên là pháo phòng không 37ly cùng pháo 105ly bắn thẳng vào vòng người tay không giữ đảo. Chín người bị bắt, cùng sống, cùng chiến đấu để thể hiện phẩm chất người lính Hải quân Việt Nam suốt 4 năm trại giam quân thù, nhưng sau ngày trao trả và ở cùng nhau ở trài điều dưỡng đến năm 1992 thì chia tay đến nay họ mới lại gặp mặt. Thực ra là chỉ tám vì một người đã mất vì ung thư. Cảm giác tức ngực như thế nào khi đạn 37 ly cắm xuống nước; Dương Văn Dũng và Phạm Văn Nhân vừa bơi vừa cố giữ thăng bằng hai đầu ván cho Trương Minh Hiền bị thương ở ngực, gãy xương sườn, gãy cánh tay trái nằm giữa, không bị lật xuống nước suốt một ngày như thế; những câu chuyện trong nhà tù đấu tranh giằng co với giặc ngay trong từng câu nói, từng thái độ, cương quyết không hút thuốc lá “không đọc được chữ”...đến giờ họ vẫn nhớ như in, tranh nhau kể và cả, ôm nhau khóc!
Trương Văn Hiền hiện ở thành phố Buôn Ma Thuộc Đắc Lắc; Dương Văn Dũng hiện ở Hòa Xuân, Cẩm Lệ, Đà Nẵng và Lê Minh Thoa hiện là chủ tiệm phở số 5 Tăng Bạt Hổ thành phố Quy Nhơn. 
Nhưng không hiểu sao đến sáng ngày khai mạc chỉ còn lại ba người, năm người đã lặng lẽ bỏ về trong đêm, ngay cả tư trang để trong nhà nghỉ Suối Lương cũng không buồn vào lấy. Không ai biết lý do tại sao họ lại bỏ đi. Qua điện thoại, họ chỉ a lô rồi nghe như có tiếng khóc. Có người đoán, hình như họ không chịu được những cảm giác như sang chấn tâm lý mạnh ngày ấy sống trở lại. Lại có người đoán hình như họ cảm thấy “sợ” vì ban tổ chức không phải là một cơ quan nhà nước chính thống, và cũng không có ai đại diện đơn vị cũ đến cùng họ. Ngày khai mạc, thành phố Đà Nẵng không có đại biểu và ngay cả chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa cũng xin vắng.
 Phút mặc niệm 64 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh ở đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988
Mặc dù vậy, buổi lễ gặp mặt của cuộc hội ngộ lần thứ nhất của những cựu chiến sĩ Hải quân và thân nhân các liệt sĩ từng tham gia trận Hải chiến Trường Sa, đã diễn ra thật cảm động và sâu lắng. Sau những nghi thức chào hỏi (đại diện chính thức duy nhất của chính quyền là giám đốc sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi) là chiếu phim “Hải chiến Trường Sa 1988”, trong đó có một đoạn phim tư liệu do Trung Quốc thực hiện mô tả rõ hình ảnh súng 37ly bắn thẳng vào vòng người tay không giữ đảo ấy. Có lẽ, cả hội trường, ai cũng đã xem đoạn phim này không dưới chục lần, nhưng đến đoạn những tiếng hô “Tả lơ ! Tả lơ !” vang lên và đạn dựng lên những cột nước cao ngất thì không ai chịu nổi. Đến đoạn thiếu úy Trần Văn Phương, người giữ cờ hô lớn trước khi hy sinh: “Thà hy sinh chứ không để mất đảo! Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ tổ quốc” thì chị Mai Thị Hoa, vợ thiếu úy Trần Văn Phương, bật khóc thành tiếng. Câu khẩu hiệu của thiếu úy Trần Văn Phương được Trương Minh Hiền nhớ lại một cách khác, anh bảo lúc đó anh đứng gần chiếc xuồng, cũng là gần chỗ Trần Văn Phương cầm cờ, hình như đó là: "Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo!".

Chị Mai Thị Hoa vợ liệt sĩ thiếu úy Trần Văn Phương bật khóc khi xem đoạn phim kể chuyện chồng mình hô to khẩu hiệu “ Thà hy sinh chứ không để mất đảo. Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ quyết không để mất đảo”.
Đến lúc giao lưu, lúc cựu binh Dương Văn Dũng kể chuyện anh từ mũi tàu, nhảy bổ vào buồng lái thì thấy thuyền trưởng Vũ Phi Trừ toàn thân ướt đẫm máu đó nhưng vẫn gượng đứng bảo mọi người nhảy ra khỏi tàu, thì đến phiên con trai anh, chàng trai 25 tuổi Vũ Xuân Khoa bật khóc.   
Vũ Xuân Khoa bật khóc khi nghe kể về giây phút cuối của cha mình, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ.
Anh nghe mẹ và nhiều người khác nữa nói nhiều về cha nhưng đây là lần đầu tiên anh được nghe kể về hình ảnh cuối cùng của cha mình từ chính người đã nhìn thấy cha anh lần cuối, đã tận tay xé áo băng cho cha anh trước khi tàu HQ604 chìm hẳn. Đã 23 năm nhưng chúng ta không hiểu tại sao đến giờ họ mới được gặp mặt. Chuyện đâu phải đáng để giấu, kẻ thù vẫn hằng ngày nói về ngày đó như là chiến thắng vinh quang của họ, còn làm phim để giáo dục con cháu họ kia mà?
 Trương Văn Hiền kể anh đứng gần chiếc xuồng này   
Và chính anh cũng bật khóc khi xem lại cảnh đồng đội mình bị tàn sát, nhớ lại lúc viên đạn xuyên qua cánh tay làm vỡ nát xương cánh tay và vỡ toát một mảng ngực giờ còn sẹo.
Vâng, chúng ta thường phong anh hùng cho những người đã diệt được nhiều quân thù, nhưng trong trường hợp này, cả 9 anh, chỉ riêng việc tồn tại thôi họ đã xứng đáng với danh hiệu anh hùng không thua kém bất cứ ai rồi. Chỉ với sự tồn tại thôi, những người thợ mỏ Chi Lê đã được cả thế giới xem như những anh hùng. Sao vậy ? Lẽ ra những người giải cứu mới xứng đáng được vinh danh hơn chứ? Cuộc sống nhiều khi chỉ cần tồn tại thôi, vượt qua sự thử thách khắc nghiệt nào đó cũng đủ cho người sống chúng ta tôn vinh họ với ý nghĩa đầy đủ nhất của danh hiệu anh hùng. Huống hồ, sự hiện diện, sự có mặt của họ đến hôm nay không chỉ là minh chứng cho sự vô nhân bất, tín nhất mà còn là sự sống thay cho 64 đồng đội đã hy sinh mất xác ở lòng biển Trường Sa. Thế nhưng, vì nhiều lý do, các anh như muốn được quên đi, không ai được nhắc tới.
Các bạn trẻ thuộc Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa (hàng ngồi) chụp ảnh với các nhân chứng Gạc Ma 1988 (hàng đứng)
Xin nói thêm về ban tổ chức cuộc gặp mặt lần thứ nhất này, đó là các bạn rất trẻ, tất cả đều trên dưới 20 tuổi tập hợp tự nguyện tại Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa (hoangsa.org) sau rất nhiều năm tìm kiếm, liên lạc với 64 gia đình liệt sĩ, với chín người sống sót, đã kêu gọi đóng góp và tổ chức cho cuộc gặp mặt này nhưng vẫn thiếu trước hụt sau, thậm chí chút phần quà kèm giấy khen mà Sở Văn hóa Thế thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tặng các bạn cũng bỏ vào chi phí cũng vẫn cứ không đủ. Trong phát biểu với những cựu binh Trường Sa các bạn trẻ đã nói rõ rằng thực tế có những chuyện mà vì nhiều lý do nhà nước làm không được, người lớn cũng không làm được thì chúng cháu xin được làm. Mong các chú các bác ủng hộ.

Ngứa mắt

Hoạnh họe! Ai cho họ cái thói hoạnh họe! Làm như bố người ta! Thật kg chịu nổi!

Hãy xem động tác của tay cảnh sát này.

Người ta đang 'hiện đại hóa' lễ hội

 

Tác giả: Nguyễn Hòa

     Gần đây, người ta lại "nghĩ ra" một số lễ hội mới bằng cách... khai thác vốn cổ, và làm mọi cách để chứng minh điều "nghĩ ra" là chính đáng.
     Với sự lên ngôi của thói ích kỷ và vụ lợi, vào ngày lễ hội, sự tĩnh mịch, thanh sạch của một số ngôi chùa, miếu mạo và điện thờ đã không còn nữa. Ồn ào, chen chúc, khói bụi và phàm tục.
>>Những nỗi niềm...ngoài "lễ hội"
    Theo số liệu của cơ quan chức năng, hiện nay mỗi năm cả nước có hơn tám nghìn lễ hội lớn nhỏ, từ quy mô Nhà nước tới quy mô địa phương. Như vậy bình quân mỗi ngày, cả nước có gần 30 lễ hội.
Trong đó, lễ hội lịch sử cách mạng - chiếm 4%, lễ hội tôn giáo - chiếm 16%, lễ hội dân gian truyền thống chiếm tới 80% và chủ yếu diễn ra vào mùa xuân. Đó là lý do tại sao mấy năm gần đây, cứ mỗi dịp xuân về là con dân cả nước lại đổ xô tới các lễ hội.
   Tưởng nhớ công ơn của tổ tiên, tôn vinh người có công với dân, với nước,... là đạo lý, là nét đẹp của văn hóa dân tộc. Nhưng khi niềm tin về "thế giới linh thiêng" và "con người ích kỷ" chiếm thế thượng phong tại các lễ hội, thì nét đẹp của văn hóa đã bị gạt xuống hạng hai.
     Thay vào đó là sự lên ngôi của cuộc gặp gỡ một cách tiêu cực giữa nhu cầu đi tìm sự may mắn từ "thế giới linh thiêng" với mấy người "buôn thần, bán thánh". Ở đâu được đồn đại là linh thiêng thì người kéo đến càng đông.
     Họ cắm hương vào bất cứ chỗ nào theo họ "có vẻ linh thiêng". Từ gốc cây xù xì, bậc thềm sứt sẹo, đến mô đất lô nhô. Rồi họ xì xụp khấn vái ở bất cứ chỗ nào thấy khác thường.
     Họ rải tiền, đốt vàng mã ở mọi chỗ, mọi nơi. Họ dẫm đạp lên nhau, cố giành lấy một chỗ đứng trước ban thờ. Họ trở thành nạn nhân của những kẻ sẵn sàng tỏ thái độ báng bổ trước "cửa thánh" và hầu như chẳng có niềm tin về cái "thiêng"...!
      Có lẽ vì thế mà năm trước, sau khi đi lễ chùa về, chị tôi vừa cười vừa kể rằng, ở ngôi chùa nơi chị tôi đến, có một ban thờ mới sơn lại. Vì sợ khách hành hương không biết lại đặt đồ lễ lên trên, nên nhà chùa viết hai chữ "sơn ướt" vào tờ giấy rồi dán vào mép ban thờ. Vậy mà vẫn có người xì xụp cúng vái, miệng lẩm bẩm: "Lạy cụ Sơn Ướt!"!
     Nhiều người, đến dự lễ hội với mục đích rất cụ thể, rõ ràng: Khấn vái, xin xỏ, vay mượn, cầu may, cầu lợi là chính và vui chơi là phụ. Nên trung tâm "thiêng" của các lễ hội bao giờ cũng đông nghẹt. Tình trạng này, từ đền Bà Chúa Kho ở phía Bắc đến đền Bà Chúa Xứ núi Sam ở phía Nam đều tương tự như nhau.
     Mâm lễ xếp tràn tới tận lối ra vào ban thờ. Nếu chi dăm chục nghìn đồng cho mấy người dân bản địa đã xếp hàng xí chỗ từ trước thì mâm cúng sẽ được đặt gần thánh thần hơn. Mâm nhà này nhầm với mâm nhà khác là thường tình. Nhầm mà không đòi được thì quay ra cãi nhau, thậm chí chửi nhau như hát hay.
     Rồi nữa, với rất nhiều người, việc kiếm chút "lộc thánh" cũng là điều cực kỳ quan trọng. Và việc cướp lộc ở đền Sóc, cướp ấn ở đền Trần,... đã trở thành ví dụ điển hình cho nguyên lý sinh tồn của kẻ mạnh.
     Không xót thương người cao tuổi, không áy náy khi trẻ em khóc lóc kêu la, khách hành hương trẻ tuổi, khỏe mạnh, cố trèo cả lên đầu lên cổ, dẫm đạp lên người khác, mạnh ai nấy cướp, cướp càng nhiều càng tốt... Và họ làm cho tính chất vô tư của lễ hội như bị triệt tiêu bởi thói ích kỷ.
    Xưa kia, như trong tục cướp bánh dày chẳng hạn. Gọi là "cướp" nhưng thật ra không "cướp" theo nghĩa đen của từ này. Đi cùng với "cướp" là luật bất thành văn, có liên quan tới đạo lý. Mọi người cùng xông vào "cướp" nhưng biết nhường nhịn, mỗi người một chút, gọi là hương hoa, "lộc thánh" chia đều.
     Cộng đồng sẽ chê cười, khinh khi nếu ai đó dùng sức lực hơn người mà tranh cướp. Với sự lên ngôi của thói ích kỷ và vụ lợi, vào ngày lễ hội, sự tĩnh mịch, thanh sạch của một số ngôi chùa, miếu mạo và điện thờ đã không còn nữa. Ồn ào, chen chúc, khói bụi và phàm tục.
     Từ đó suy ra, sự liêm sỉ của một số người dự lễ hội cũng mỏng mảnh. Để giành lấy chút lợi "ảo" cho bản thân, người ta đã tỏ ra bất cần đạo lý, bất chấp lợi ích cộng đồng.
     Như cô bạn tôi dự khai hội Yên Tử năm 2013 mới đây, sau khi bị chen chúc đến mức "tưởng không còn đường về" đã viết:
     "Nhưng khi thoát được đám đông đang xì xụp khấn vái ấy, tôi thấy thanh thản. Chắc khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng, xuất gia tu hành, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, với tinh thần nhập thế và yêu nước, Ngài chẳng thể ngờ rằng, hơn 700 năm sau con cháu thần dân của Ngài lại sùng kính mình đến thế, đỉnh Phù Vân lại có ngày đông vui đến thế, tư tưởng của Ngài lại lan tỏa sâu rộng trong dân chúng như thế.
     Chỉ có điều, phần lớn những người đang cố leo lên tận chùa Đồng, đứng giữa trời đất, dưới chân Ngài thể hiện đức tin, ra sức cầu xin Ngài những thứ mà hơn bẩy thế kỷ trước Ngài quyết tâm từ bỏ!".
    Vậy rồi đây văn hóa sẽ ra sao, nếu những con người như thế trở thành "tấm gương" cho lớp trẻ noi theo?
     Từ bản chất của tình trạng, dù trân trọng quá khứ của cha anh đến đâu, dù tôn trọng nhu cầu tinh thần của người khác đến thế nào, người viết bài vẫn không khỏi e ngại khi liên tưởng tới sự thật- đây là biểu hiện của chuyển dịch văn hóa ngược chiều, theo hướng đi xuống. Chưa nói là đôi khi trong đó có chứa đựng cả yếu tố phản văn hóa!

Đến các lễ hội mới được "nghĩ ra"...!
     Ngoài một số lễ hội truyền thống đã có từ lâu đời, gần đây, người ta lại "nghĩ ra" một số lễ hội mới bằng cách... khai thác vốn cổ. Và để chứng minh điều "nghĩ ra" là chính đáng, trước hết người ta gắn nó với du lịch - thường được tạo ấn tượng bằng cách ví von là "ngành công nghiệp không khói", rồi tổ chức một hai cuộc hội thảo.
    Đến dự hội thảo sẽ thấy, la liệt các khái niệm "văn hóa, lịch sử, du lịch" cùng đoàn GS, Phó GS, TS... được xe cộ đón rước rình rang. Các vị đến hội thảo với các bản tham luận tràng giang đại hải, tràn đầy trích dẫn kim - cổ, đông - tây, chỉ để chứng minh điều ai đó "nghĩ ra" là hết sức đúng đắn, và cần thiết.
    Có lẽ ngoài hội thảo về đền Cẩu Nhi ở Hà Nội năm nào là có tranh luận khá sôi nổi. Còn ngoài ra, hầu như ở đâu cũng vậy, chưa thấy ai hăng hái chứng minh ngược lại mục đích của ban tổ chức. (Chứng minh ngược lại, thì người ta mời làm gì!?).
     Cẩn thận hơn và để tạo ra tinh thần khách quan, người ta tìm đến các cụ để khảo sát. Tầm tuổi được gọi là "cụ" ở làng xã hôm nay, thường sinh ra vào quãng những năm 30 của thế kỷ trước.
    Khi các cụ lớn lên thì cách mạng nổ ra, rồi nhiều người đi bộ đội, thoát ly làm việc Nhà nước,... nay về quê dưỡng già, lần đầu tiên được làm quen với khăn xếp, áo the. Nói vô phép, các cụ đừng giận, thời lễ hội còn thịnh hành, có khi có cụ còn mặc quần thủng đít, ngồi ở góc đình chờ mẹ dúi cho nắm xôi. Khó có thể nói các cụ đã rành rẽ mọi sự để nói vanh vách "ngày xưa làm thế này", "ngày trước làm thế kia".
    Thế rồi, coi như về khoa học đã được bảo đảm, về thực tiễn giải quyết xong, chỉ còn phải lo chứng minh sự chính đáng của một khoản kinh phí phải chi ra, rồi lo quy hoạch, đấu thầu, thi công.
    Để ngày tới khánh thành trống phách rầm rĩ, cờ xí rợp trời. Hàng quán mọc lên san sát. Các bãi gửi xe "dã chiến" hình thành với mấy anh chàng mặt mũi bặm trợn, sẵn sàng đưa ra cái giá mà phải nhìn ánh mắt gườm gườm, tiếng quát tháo của họ mới hiểu tại sao gửi xe lại đắt như vậy.
    Rồi âm thanh rầm rĩ từ các bộ loa đồ sộ khiến cho khách hành hương phải gào to mới nghe được tiếng của nhau. Rồi quan khách ở trung ương, quan khách tỉnh nhà, quan khách các tỉnh bạn nườm nượp kéo về chung vui.
     Những người dân chất phác, hiền lành trong vùng cũng tới, quần áo mới tinh, hồ hởi và tự hào, vừa thành kính thắp nén tâm nhang bên đĩa trầu cau oản khảo, vừa len lén nhìn sang "lễ mọn" chất ngất của các đại gia, đầy phè nào xôi, nào gà, nào lợn, nào nho Mỹ táo Mỹ, nào rượu tây, bia lon, nào thuốc lá "ba số"...
    Để tỏ lòng tri ân với tiền nhân (có khi cũng chẳng biết tiền nhân là ai?), để tỏ tấm lòng thiết tha với văn hóa dân tộc, để ghi nhận công lao của người "nghĩ ra" lễ hội, một số quan chức cũng nhiệt tình dự ngày khai mạc. Nhiều vị đến dự có xe gắn còi hụ dẫn đường, có gắn biển chữ A chữ B để được ưu tiên phóng thẳng vào nơi hành lễ.
    Không chỉ có thế, có người còn cố gắng hiện đại hóa lễ hội, mà có thể coi lễ hội tổ chức ở Lảnh Giang (Hà Nam) năm 2009 là ví dụ điển hình.
    Người ta có tham vọng tạo nên sự "đột phá" cho lễ hội khi sử dụng "nghệ thuật đương đại để truyền tải các nội dung văn hóa truyền thống" với sự hỗ trợ bởi các kỹ xảo tương tác, màn diễn xướng tái hiện huyền tích vị thánh đền Lảnh Giang với sự kết hợp của video art, performance art,...
     Và người cầm trịch trò này tuyên bố: "Nghệ thuật đương đại ở một phương diện nào đó, cũng chính là cái cũ bị lãng quên... trên phương diện truyền thông đại chúng, việc đưa nghệ thuật đương đại một cách hài hòa vào lễ hội cổ truyền sẽ có sức hấp dẫn mạnh hơn là những lễ hội được tổ chức theo cách thông thường".
      Không biết cái sự "hài hòa" kia hấp dẫn đến đâu, nhưng mấy năm rồi không thấy nhân rộng mô hình và hình ảnh "tổng đạo diễn chương trình" với bộ đàm cầm tay vừa chạy lăng xăng từ chỗ này đến chỗ khác, vừa hò hét ỏm tỏi cũng đã mờ nhạt.
    Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn, nếu chuyện "trần sao âm vậy" là có thật, thì các vị thánh ở đền Lảnh Giang có lấy làm hoan hỉ khi được nghe âm thanh chát chúa từ cả dãy loa thùng, và ngắm lớp con cháu cởi trần trùng trục, mình mẩy vẽ nhằng nhịt theo "lối trang trí nghệ thuật kiểu thổ dân châu Úc, châu Phi"...!?
(còn tiếp)

12 thg 3, 2013

Ba kịch bản chính trị Việt Nam

Posted on March 12, 2013 by ixij
Cập nhật: 16:45 GMT – thứ hai, 11 tháng 3, 2013
BMI nói kịch bản tốt nhất là Đảng Cộng sản dần chuyển sang tự do hóa chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam đang phải đối diện với một nhiệm vụ khó khăn trong việc bảo vệ hệ thống độc đoán, giữa lúc áp lực đòi cải cách dân chủ đang ngày càng tăng cao.
Đây là nhận xét của hãng tư vấn ở London, Business Monitor International ( BấmBMI), được đưa ra trongBấmbản phúc trình mới nhất, dự báo tình hình kinh doanh của Việt Nam trong thời gian từ nay tới 2022.
Trong bản phúc trình mới nhất, công bố cho quý hai năm 2013, công ty độc lập chuyên thu thập và đánh giá rủi ro chính trị và kinh doanh có trụ sở tại London nói rằng về ngắn hạn, mức độ rủi ro chính trị của Việt Nam là tương đối thấp, nhưng về mặt dài hạn lại gây quan ngại.
BMI đánh giá rằng câu hỏi lớn nhất mà chính trị Việt Nam đang gặp chính là những lời kêu gọi đòi phải dân chủ hóa, trong lúc về mặt chính sách ngoại giao thì việc Trung Quốc ngày càng lớn mạnh sẽ đẩy Việt Nam gắn bó hơn với nhóm các nước Á châu có quan hệ gần gũi với Hoa Kỳ.
Theo cách tính toán xếp hạng của BMI, Việt Nam đạt 76,9, tức trên trung bình trong khu vực đối với mức rủi ro chính trị ngắn hạn (73,2), đứng thứ chín. Đứng đầu là Singapore (94,8), tiếp theo là Brunei Darussalam (90,6).
BMI xếp hạng rủi ro chính trị dài hạn
    Nam Hàn 84,2
    Singapore 80,6
    Đài Loan 75,4
    Hong Kong 72,9
    Trung Quốc 67,4
    Malaysia 67,2
    Ấn Độ 65,7
    Brunei Darussalam 65,6
    Philippines 62,8
    Bangladesh 62,6
    Thái Lan 61,8
    Sri Lanka 60,2
    Indonesia 60,0
    Campuchia 58,9
    Việt Nam 57,7
    Bắc Hàn 55,2
    Papua New Guinea 54,8
    Pakistan 52,7
    Bhutan 51,0
    Lào 44,5
    Miến Điện 37,5
Trung bình khu vực 62,6/toàn cầu 63,4/các thị trường đang nổi 59,8
Tuy nhiên, ở phần xếp hạng độ rủi ro dài hạn, theo BMI, Việt Nam chỉ đạt 57,7, dưới mức trung bình (62,6) và đứng thứ 15 trên tổng số 21 quốc gia khu vực. Trong bảng này, Nam Hàn được cho là an toàn nhất, đạt 84,2 điểm, với Miến Điện đứng chót (37,5).
BMI cũng đưa ra ba kịch bản cho khả năng thay đổi chính trị Việt Nam trong thời gian tới, gồm tình huống cơ bản, tình huống tốt nhất, và tình huống xấu nhất.
Kịch bản một: Chế độ kỹ trị
Theo kịch bản này, Đảng Cộng sản VN biến chuyển thành một chế độ kỹ trị, theo đó BMI dự đoán Đảng sẽ chuyển hướng để chính phủ nhắm vào việc duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao và đảm bảo phân phối của cải một cách tương đối hợp lý cho toàn bộ dân chúng.
Với hướng đi này, BMI nhận định nhiều thanh niên vào Đảng nhằm thăng tiến trong sự nghiệp và phục vụ đất nước chứ không phải vì lý tưởng cộng sản.
Do vậy, BMI dự đoán các cải cách kinh tế sẽ được tiếp tục, bất chấp những lời chỉ trích từ các thành viên lớn tuổi, bảo thủ trong Đảng.
Tuy nhiên, BMI đánh giá là trong kịch bản này, việc các nhà hoạt động đòi dân chủ và những người chỉ trích chính phủ có những giai đoạn bị đàn áp mạnh tay chính là chỉ dấu cho thấy việc tự do hóa chính trị vẫn là điều chưa được chấp nhận.
Kịch bản hai: Từng bước tự do hóa chính trị
Theo BMI, đây sẽ là tình huống tốt nhất, với việc Đảng Cộng sản áp dụng những chuyển biến nêu trong kịch bản một, đồng thời kết hợp với việc dần dần tiến tới tự do hóa chính trị, như mở rộng vai trò của Quốc hội, chấp nhận một cách dễ dàng hơn những ý kiến khác ở ngay trong cùng Đảng, tăng tính cạnh tranh chính trị trong các kỳ bầu cử, và cho truyền thông hoạt động cởi mở hơn.
Theo kịch bản này, BMI cho rằng Việt Nam sẽ đi từ hệ thống độc đảng sang hệ thống một đảng nắm quyền chi phối tương tự như mô hình ở các nước láng giềng Campuchia, Malaysia và Singapore, nơi chỉ có đảng cầm quyền là có cơ hội thực sự để chiến thắng trong các kỳ bầu cử.
Hiện đang có nhiều kêu gọi phải sửa đổi điều 4 Hiến pháp, qua đó thách thức sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản
Nếu nhìn xa hơn, thì những gì đã xảy ra ở Nam Hàn, Đài Loan và Nhật Bản cho thấy mô hình hệ thống một đảng nắm quyền chi phối rốt cuộc cũng sẽ mở đường cho phe đối lập. Tuy nhiên, BMI nhận định trong trường hợp Việt Nam thì con đường này có lẽ chỉ xảy ra sau hơn một thập niên nữa.
Kịch bản ba: Bạo loạn và đàn áp bạo lực
Biểu tình tại Thiên An Môn tháng Năm 1989

Hai mươi năm trước, vào mùa xuân đặc biệt đó của Trung Quốc năm 1989, một trận cuồng phong ập đến đất nước đang đối mặt với những vấn đề chính trị gay cấn.

Các sinh viên từ Đại học Bắc Kinh trên quảng trường Thiên An Môn 
         Các sinh viên biểu tình ủng hộ dân chủ đối mặt với quân đội (ngay trước thảm họa )

 
 
Người dân Bắc Kinh đạp xe qua xe tăng và xe quân sự bị đốt cháy, dấu tích của biến cố còn lại sau khi quân đội dập tắt cuộc đấu tranh.
Là khả năng xấu nhất, với những bước đi sai lầm nghiêm trọng về mặt chính sách, dẫn tới một giai đoạn biến động kinh tế kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp cao và mức lạm phát chóng mặt khiến mức độ sung túc bị xói mòn, theo BMI.
Tình hình này sẽ thúc đẩy mạnh việc thay đổi thể chế, nhưng BMI đánh giá rằng trước các cuộc biểu tình rộng khắp trên đường phố và sự thách thức toàn diện về cơ chế độc đảng lãnh đạo, một bộ phận trong Đảng sẽ ủng hộ việc dùng các lực lượng an ninh đàn áp người biểu tình để tiếp tục níu giữ quyền lực.
Tuy nhiên, theo BMI, việc đàn áp bạo lực các cuộc biểu tình đường phố như từng xảy ra tại Bắc Kinh hồi 1989 hay tại Miến Điện hồi 2007 sẽ dễ khiến nhiều người thiệt mạng, và dẫn tới việc bị cộng đồng quốc tế áp lệnh trừng phạt.
Mà nếu vậy, Việt Nam nhiều khả năng sẽ phải đương đầu với không chỉ tình trạng bị cô lập về mặt ngoại giao mà còn bị suy yếu kinh tế do ảnh hưởng tới việc xuất khẩu và đầu tư trực tiếp của nước ngoài, BMI đánh giá.

Thư ngỏ gửi Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng

Thư ngỏ gửi Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng về bauxite

Thứ Hai, 11/03/2013 18:59

(NLĐO)- Ngày 11-3, TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc BQL Các dự án than đồng bằng sông Hồng thuộc Vinacomin, có bức thư ngỏ gửi Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng sau khi nghe ông trả lời trên VTV1 về vấn đề bauxite Tây Nguyên. Báo NLĐO xin trích giới thiệu bức thư ngỏ này.


"Hà Nội, ngày 11-3-2013.
Kính gửi anh Vũ Huy Hoàng - Bộ trưởng Công Thương,
      Tôi là Nguyễn Thành Sơn, may mắn đã quen biết và đôi khi có làm việc với anh từ năm 1977 (khi tôi còn làm việc ở Vụ Kế hoạch - Bộ Điện Than), chắc anh vẫn nhớ.
      Tối qua, tôi đã lắng nghe anh trả lời phỏng vấn của VTV1 về bauxite. Tôi xin phép được trao đổi với anh một số ý như sau:
       Trước hết anh nói: “Trữ lượng bauxite của VN là khoảng 10-11 tỉ tấn” là sai mất rồi. Con số 10-11 tỉ tấn chỉ là tiềm năng về bauxite, dứt khoát không phải là trữ lượng. Theo chuẩn đánh giá của Mỹ thì trữ lượng bauxite của VN chỉ bằng 1/5 con số đó thôi. VN không phải “là một trong một số ít nước được đánh giá là có trữ lượng bauxite lớn trên thế giới” đâu anh ạ. Đó chỉ là đánh giá của những người không hiểu thế nào là “trữ lượng” thôi.
TS Nguyễn Thành Sơn viết thư ngỏ gửi Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng về vấn đề bauxite - Ảnh: Thế Dũng
       Về việc phải nhập khẩu nhôm: Là Bộ trưởng Công Thương, anh thừa biết ngành luyện kim của VN như thế nào? Kim loại nào cũng phải nhập. Dễ làm như gang-thép mấy chục năm nay rồi có cạnh tranh nổi đâu, càng làm càng kém hiệu quả. Giá điện ở VN thì anh quá thuộc rồi. Với nền kinh tế VN, “mơ” đến công nghiệp nhôm cũng giống như “mơ” về giá điện 600 đồng/KWh. Anh nói, hằng năm ta phải chi hơn 1 tỉ đô la để nhập nửa triệu tấn nhôm. Tôi sẵn sàng cá với anh, trên Tây Nguyên, nếu Vinacomin tự làm ra được nửa triệu tấn nhôm (như loại đang phải nhập) sẽ tốn hơn 2,5 tỉ đô la kia. Việc nhập nhôm không phải là lý do chính đáng để phải triển khai hai dự án bauxite như anh nói đâu.
     Về chủ trương: Mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đều hướng đến mang lại lợi ích tối đa cho dân tộc, cho nền kinh tế. Dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về bauxite-nhôm nhưng khi triển khai chủ trương đó một cách “quyết liệt” như Vinacomin và Bộ Công Thương đã làm mà không thấy hiệu quả và lợi ích đâu thì bộ và Vinacomin phải có trách nhiệm báo cáo lại với Đảng và Nhà nước chứ? Tôi thấy, trong quá trình triển khai chủ trương của Đảng và Nhà nước về bauxite-nhôm, bộ và Vinacomin đã mắc nhiều sai lầm đáng tiếc nên đã dẫn đến tình trạng hiện nay. Nếu anh thu xếp được thời gian, tôi sẽ trình bầy riêng với anh về chủ đề này.
      Về dự án thí điểm: Anh đã nói đúng, là “ở giai đoạn hiện nay, chúng ta mới đầu tư thí điểm hai dự án khai thác bauxite và chế biến thành a-lu-min tại Tân Rai (Lâm Ðồng) và Nhân Cơ (Ðắk Nông)”. Chắc Vinacomin chưa kịp báo cáo với anh, cái gọi là “thí điểm hai dự án” của “quả đấm thép” Vinacomin hiện đã bổ sung vào nợ công của VN hơn 1,2 tỉ đô la rồi đấy. Nếu cứ ‘quyết liệt’ làm nốt Nhân Cơ thì nợ công sẽ tăng thêm gần 2 tỉ đô la kia. Đến tình trạng như hiện nay, đối với Bộ Công Thương, có thể coi đó là hai dự án “thí điểm”, nhưng đối với Vinacomin thì đó là 2 dự án “thí mạng” rồi anh Hoàng ạ. Để trả nợ cho hai dự án “thí điểm” này của bộ, gần 140.000 lao động của Vinacomin (trong đó có tôi) sẽ phải làm việc cật lực 20 năm may ra mới “xong” (tôi chỉ còn phải làm hơn 1 năm nữa thôi).
      Về nguyên nhân chậm tiến độ: Là người của Vinacomin, tôi thấy nguyên nhân chủ yếu của việc chậm tiến độ của hai dự án là do chủ đầu tư quá nóng vội, “quyết liệt” làm cho bằng được, còn nhà thầu thì hứa hão. Là cấp trên của Vinacomin, Bộ Công Thương không nên trách chủ đầu tư “chưa thực hiện thật tốt công tác thông tin tuyên truyền, giải thích”. Tôi biết Vinacomin rất tích cực trong việc thông tin tuyên truyền giải thích. Chỉ có điều, những thông tin mà dư luận quan tâm thì Vinacomin lại “lờ” đi, không “tuyên truyền”, còn những vấn đề được Vinacomin “giải thích” thì dư luận đã đoán được trước như cảng Kê Gà rồi.
       Thiệt hại hàng trăm triệu đô la do chậm tiến độ thì rõ rồi, tôi không thấy anh nhắc đến. Nhưng, lợi ích của việc chậm tiến độ như anh nói là “chúng ta phải chấp nhận kéo dài nhưng đổi lại sẽ yên tâm hơn về mức độ an toàn công trình” thì tôi không tin. Mức độ an toàn của bùn đỏ trước hết do công nghệ thải bùn đỏ (“khô” hay “ướt”) quyết định, chứ không phụ thuộc vào mấy lớp vải địa kỹ thuật của nhà thầu dùng. Tôi thấy Bộ Công Thương, sau khi đi khảo sát ở Hungary về nhưng vẫn phê duyệt công nghệ thải bùn “ướt” là một sai lầm cố ý. Người Hungary có khuyên chúng ta cứ làm “ướt” không? Anh nói “dư luận xã hội chưa đồng thuận với việc triển khai dự án, nên ở giai đoạn đầu của quá trình thi công có một số hạng mục đã phải tạm giãn tiến độ chờ xem xét”. Tôi thấy, qui trách nhiệm chậm tiến độ cho dư luận xã hội là không nên. Nếu bộ “xem xét” mọi việc đều đúng thì chẳng có dư luận nào “chưa đồng thuận” cả. Còn nếu dư luận xã hội sai thì việc gì bộ phải “xem xét” (Anh cứ hỏi anh Lê Dương Quang - bạn tôi).
      Về chất lượng công trình: Tôi thấy dự án Tân Rai mới chỉ chạy được 30-40% công suất thiết kế mà anh đã khẳng định “đã sản xuất thử thành công sản phẩm a-lu-min đầu tiên với chất lượng được đánh giá cơ bản đạt yêu cầu”.

Bên trong nhà máy khai thác bauxite Tân Rai
     Về phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án: Anh đã nói rằng “cần phải dựa trên những tính toán dài hạn” là rất đúng. Để thực hiện lời của anh, thế giới từ những năm 80 của thế kỷ trước đã phát minh ra một số cái gọi là NPV, B, C, IRR... Nếu có ai đó, lấy giá bán alumina tại thời điểm hôm nay (liên quan đến B) so sánh với chi phí (liên quan đến C) tại thời điểm ngày mai thì họ đã sai. Anh nên cho Vinacomin công khai xem chi phí làm ra 1 tấn alumina ở Tân Rai như thế nào để dạy cho người ta cách tính.
     Về hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án: Anh nói (như nhiều người giống anh đã nói): “Ðối với doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh là mục tiêu chủ yếu, nhưng đối với xã hội điều lớn hơn mà tất cả chúng ta mong đợi là hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội đối với phát triển vùng, phát triển ngành và phát triển nền kinh tế”. Anh cứ hỏi anh Vũ Đức Đam thì biết, nếu ngành than ở Quảng Ninh mà thua lỗ thì tình hình Quảng Ninh sẽ như thế nào? Bản thân bauxite Tân Rai hay Nhân Cơ không có lãi thì lấy gì để “lan tỏa” cho Lâm Đồng hay Đắk Nông? Đối với hai dự án bauxite này, các “tham mưu” của anh đang vận động anh xin Chính phủ giảm tiền đền bù, giảm phí môi trường, giảm thuế xuất khẩu... thì tôi không hiểu cái gọi là “hiệu quả tổng hợp về kinh tế-xã hội” là cái gì? Quan điểm của anh cho rằng: “hãy để dự án vận hành một thời gian rồi chúng ta sẽ có cơ sở xem xét và đánh giá hiệu quả của dự án. Ðó là cách tiếp cận khách quan và phù hợp” là “vòng vo tam quốc” cho vui thôi. Tôi không rõ, trước khi các anh ký trình Thủ tướng xin được triển khai “quyết liệt” cả hai dự án thí điểm thì các anh đã “tiếp cận khách quan và phù hợp” đến như thế nào trong chương mục “đánh giá hiệu quả của dự án”?
     Về việc dừng cảng Kê Gà: Tôi thấy người đặt câu hỏi rất đúng và trúng, còn anh trả lời cũng rất hay và khéo... Nhân đây, tôi cũng xin nhắc đến cái gọi là “qui hoạch bauxite” của Bộ Công Thương. Năm ngoái, khi anh Khanh “rà soát”, “hiệu chỉnh” xong, tôi đã gửi cho các anh (và cả anh Hoàng Trung Hải nữa) nhận xét của tôi về cái qui hoạch hiệu chỉnh đó. Với phương pháp luận và tư duy qui hoạch như vậy thì cảng Kê Gà không phải là dự án duy nhất sẽ bị Thủ tướng “tuýt còi” đâu.
      Về hậu quả của hai dự án thí điểm: Nghe anh nhắc đến bùn đỏ tôi cũng mừng. Nhưng, tôi không rõ “nhiều bài học về môi trường, không chỉ trong nước mà có cả trên thế giới” được anh nhắc đến nó như thế nào? Tôi biết chắc chắn, bùn đỏ nếu được đổ thải ra ngoài trên độ cao 800-900 m so với mực nước biển và ở đầu nguồn nước như ở Tân Rai và Nhân Cơ thì chỉ an toàn khi được thải “khô” như cả thế giới đang làm.
      Về xử lý bùn đỏ: Tối qua tôi thấy gương mặt anh vẫn hơi buồn khi nhắc đến thành công của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN “đang hoàn thiện đề tài ở quy mô thử nghiệm, để chuyển sang quy mô công nghiệp việc nghiên cứu xử lý bùn đỏ để thu hồi lại xút, sản xuất sắt xốp, xỉ”... Tôi cũng xin mạn phép để nhắc đến "tính hiệu quả kinh tế" của việc xử lý bùn đỏ. Việc thu hồi “xút” chẳng ai dại gì lại làm như viện hàn lâm của VN cả. Trong sách giáo khoa của Liên Xô, họ dạy chúng tôi là xút phải cố gắng thu hồi tối đa trong nhà máy trước khi thải ra ngoài cùng bùn đỏ. Việc sản xuất “sắt xốp, xỉ” từ bùn đỏ từ Tây Nguyên đã “thành công” thì cũng là “tin” tham khảo thôi anh ạ, ai cũng biết rồi... Ngoài ra, quặng sắt Thạch Khê có hàm lượng Fe2O3 còn cao hơn 2-3 lần so với bùn đỏ, nằm ngay sát bờ biển (thuận lợi đủ thứ), không hiểu 10 năm nữa có ra được sắt “xốp” không?
    Vài lời tâm sự, chắc đã làm anh mất nhiều thời gian.   
     Tôi gửi anh thư ngỏ vì cách đây chưa lâu, tôi có gửi tới anh (qua đường bưu điện) phương án “Đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh của Vinacomin” do tôi “sáng tác” nhưng không thấy được anh hồi âm.
Kính chúc anh sức khỏe và thành công.
Kính thư,
TS Nguyễn Thành Sơn 
Theo NgươiLaoĐộng >>

11 thg 3, 2013

Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông

Đã hơn 30 năm kể từ khi Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời, đất nước Trung Quốc to lớn trải qua nhiều biến động, thi hài của vị lãnh tụ cách mạng Trung Quốc vẫn yên nghỉ trong Nhà kỷ niệm Chủ tịch Mao Trạch Đông đứng bên Quảng trường Thiên An Môn.
Xung quanh việc gìn giữ, bảo quản thi hài của Chủ tịch Mao Trạch Đông có rất nhiều lời đồn đoán… Gần đây, một nhà khoa học tham gia công tác này đã xuất bản hồi ký, lần đầu tiên hé mở những bí mật của công việc đặc biệt này.
Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
Ngày 9/9/1976, Chủ tịch Mao Trạch Đông từ trần. Ngay tối hôm đó, Bộ Chính trị họp khẩn cấp, xác định phải bảo quản thi thể ông để mọi người đến viếng, thời gian ấn định là 15 ngày.
Sinh thời, Chủ tịch Mao Trạch Đông là người đề xướng chủ trương hỏa táng và là nhà lãnh đạo Trung Quốc đầu tiên ký vào văn bản đề nghị hỏa thiêu thi hài sau khi chết. Vì vậy, thời gian bảo quản lúc đầu được ấn định là 15 ngày để tiến hành các hoạt động viếng và truy điệu… Các nhân viên y tế chỉ tiến hành công việc xử lý bình thường như tiêm cồn, phooc-môn, dầu cọ… vào thi thể để chống phân hủy.
Thế nhưng, trong thời gian tiến hành hoạt động truy điệu, ngày 10/9, Trung ương Đảng do Hoa Quốc Phong đứng đầu lại quyết định bảo quản lâu dài thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông, xây dựng lăng mộ để người đời sau được thấy di dung của ông.
Đây quả là một vấn đề lớn đối với các nhân viên y tế vì thông thường sau khi chết 2 giờ, thi thể phải được giải phẫu, lấy nội tạng ra, dùng hóa chất tẩy rửa mọi mạch máu trong cơ thể, sau đó đem ngâm vào phoóc-môn và một số hóa chất khác.
Trong khi đó, thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông lúc đầu lại chỉ xử lý đơn giản, không được rửa mạch máu, nay làm theo quy trình bình thường thì không được nữa…
Các nhân viên y tế đứng trước một vấn đề khó khăn rất lớn. Tổ nghiên cứu bảo quản thi hài gồm có Lưu Tương Bình, Ngô Giới Bình, Lâm Quân Tài, Từ Tĩnh, Lý Chí Thỏa. Đây là một nhiệm vụ chính trị bắt buộc các nhà khoa học phải hoàn thành, chỉ được thành công, không được phép thất bại. Về sau, trong Hồi ký của mình, giáo sư Ngô Giới Bình đã kể lại như sau:
“Ngày 11/9, tôi được thông báo giao phụ trách tổ công tác bảo quản thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông. Khi đó tôi mới biết thi hài ông phải được bảo quản, lưu giữ lâu dài và xây dựng Nhà kỷ niệm để mọi người vào viếng.
Rõ ràng quyết định này mới được đưa ra, có lẽ là trong ngày hôm đó. Tôi tuy đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ y tế quan trọng, nhưng lần này lại không thấy tự tin như các lần trước. Bảo quản thi thể không khó, yêu cầu chỉ là để lâu không bị phân hủy, điều này đều đã có các phương pháp khoa học. Nhưng bảo quản thi hài để mọi người chiêm ngưỡng di hài thì lại khác, yêu cầu sắc mặt, thần thái, dung mạo phải đạt chuẩn, lại còn chịu ảnh hưởng bởi chiếu sáng, nhiệt độ và độ ẩm.
Là một bác sỹ lâm sàng, kiến thức của tôi về mặt này không nhiều, thực tế lại không có phương pháp khoa học chắc chắn, trong khi đó yêu cầu phải kịp thời áp dụng các biện pháp bảo quản, không được để lỡ thời gian kẻo gây nên tổn thất không thể bù đắp được. Nhiệm vụ chính trị vô cùng trọng đại đó, tuy rất nhiều khó khăn nhưng không thể không đảm đương, vì vậy tâm tư của tôi rất phức tạp…
Ngày 18/9, Lễ truy điệu kết thúc, Trung ương cho chuyển thi hài đến một địa điểm gọi là “769”. Sau khi di chuyển thi hài, các nhân viên y tế phải làm cụ thể những gì? Trách nhiệm quá lớn lao, chẳng ai đưa ra được biện pháp nào tốt nhất.
Tại Bắc Kinh, các chuyên gia liên quan đã thành lập “Tổ bảo quản thi hài”, dùng danh nghĩa trung ương để triệu tập các nhà khoa học hàng đầu của Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu về hội thảo đi hội thảo lại.
Bên trong Đại lễ đường Nhân dân uy nghiêm, các cuộc hội thảo diễn ra thông tầm ngày đêm. Việc bảo quản do các chuyên gia Bắc Kinh chủ quản, nên phía Bắc Kinh phải đưa ra phương án thao tác trước. Đầu tiên là bảo quản bằng ngâm trong dung dịch. Đây là phương pháp phổ biến nhất trên thế giới và được dùng nhiều nhất.
Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
Các thi thể, các tiêu bản dùng trong các trường y khoa đều sử dụng phương pháp này. “Tức là ngâm thi hài trong dung dịch chống phân hủy nồng độ cao, cộng thêm các điều kiện môi trường cần thiết khác”. Trong điều kiện kỹ thuật hiện nay, đó là phương pháp đáng tin cậy nhất, ổn thỏa nhất, nhưng không thể nói là trình độ cao nhất.
Quả nhiên, các nhà khoa học Thượng Hải đã nêu ý kiến không tán thành phương pháp đó: Di hài Chủ tịch Mao Trạch Đông bảo quản để đông đảo nhân dân đến chiêm ngưỡng, phương pháp này khiến di hài giống như tiêu bản ngâm trong lọ, về mặt tâm lý mọi người sẽ khó có thể chấp nhận điều đó.
Phương pháp thứ hai là bảo bảo bằng khí. Bảo quản bằng khí tạo được cảm giác tự nhiên, sống động, nhưng khó khăn lớn nhất là làm sao để thi hài giữ được nước, vì nếu kiệt nước thì thi hài sẽ teo đi, biến dạng, biến sắc, gây tổn hại không thể cứu vãn.
Từng quan điểm liên tiếp được nêu ra rồi lần lượt bị bác bỏ. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhưng cũng không tránh khỏi có những nhược điểm, nếu không được chú ý đúng mức sẽ gây nên thất bại về căn bản. Các nhà khoa học đã hết sức cân nhắc, đắn đo, xem xét kỹ lưỡng.
Cuối cùng, quyết định được đưa ra là lựa chọn phương pháp của các nhà khoa học Bắc Kinh: kết hợp giữa bảo quản ngâm dung dịch với bảo quản khí. Gọi là kết hợp dịch – khí, tức là những phần da cần bộc lộ ra bên ngoài như phần đầu và hai bàn tay thì bảo quản bằng khí, còn lại toàn thân không cần bộc lộ thì được ngâm trong chất lỏng.
Lúc thường thì bảo quản bằng khí, mỗi năm một lần phải ngâm toàn bộ thi hài trong chất lỏng, nhưng dù bảo quản dạng khí hay dạng chất lỏng đều phải là bảo quản bằng hoá chất. Ngoài ra, còn phải áp dụng tổng hợp các biện pháp bảo quản khác như vật lý, quang học. Tóm lại đó là tổng hợp các biện pháp rất phức tạp…
3 giờ 50 phút sáng 20/9, một đoàn xe xuyên màn đêm băng qua phố Tràng An dài dằng dặc, chạy đến Mao Gia Loan. Ngay từ năm 1969, sau khi nổ ra chiến dịch Đảo Trân Bảo (tức quân đội hai nước Trung – Xô đánh nhau tại hòn đảo trên sông Usuri ở giáp giới hai nước – ND), Chủ tịch Mao Trạch Đông đã phát lệnh hô hào toàn quốc “Đào hầm sâu, tích trữ lương thực, không xưng bá”, các nơi đều đua nhau đào hầm phòng không lớn nhỏ.
Tại Bắc Kinh cũng có một đường hầm lớn nối thông Quảng trường Thiên An Môn, Đại lễ đường Nhân dân, Trung Nam Hải với Tây Sơn, tới cả Bát Đạt. Nơi ở cũ của Lâm Bưu ở Mao Gia Loan cũng có một cửa hầm. Đoàn xe chở thi dài Chủ tịch Mao Trạch Đông từ từ chạy vào đây, đi cùng có Hoa Quốc Phong, Uông Đông Hưng, Lưu Tương Bình, Hoàng Thụ Tắc và các nhân viên tổ bảo quản thi hài: Ngô Giới Bình, Lâm Quân Tài, Từ Tịnh.
Đầu tiên đập vào mắt mọi người là sự canh gác nghiêm mật của binh lính: cứ 13 bước có một chốt, 5 bước có một vọng đứng thành hàng hai bên cánh cửa sắt to đùng. Xe dừng lại trước cửa, mọi người xuống xe đi bộ xuống hầm. Vào trong hầm tôi thấy hầm rất rộng, đủ cho 4 làn xe chạy. Mọi người ngửi thấy một mùi rất khó chịu, rõ ràng là điều kiện thông gió ở đây không được tốt. Đi khoảng 100 mét thì mới đến Nhà bảo quản thi hài đầy bí ẩn.
Từ tháng 9/1976 đến tháng 8/1977, nhóm của Ngô Giới Bình đã liên tục làm việc dưới lòng đất để thực hiện sứ mệnh đặc biệt gọi là “Nhiệm vụ số Một Liên hợp quốc”. Trong thời gian đó, phía bên trên mặt đất đã diễn ra những thay đổi trời long đất lở, chấn động trong, ngoài nước.
Nhà bảo quản thi hài mang bí số “769” đó vốn là một phòng phẫu thuật quân y, thiết bị rất đầy đủ, điều kiện rất tốt. Theo yêu cầu của việc bảo quản, các căn phòng được cải tạo để trở nên kín gió, chân không và có nhiệt độ thấp. Trong phòng có một thùng lớn làm bằng titan đổ đầy dung dịch thuốc để ngâm thi hài.
Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
Những bí mật về việc bảo quản thi hài Mao Trạch Đông
Tổ bảo quản thi hài tiến hành phân công rất chặt chẽ. Hoàng Thụ Tắc, Ngô Giới Bình và Lâm Quân Tài là 3 trưởng ca, mỗi ca làm việc liên tục 24 giờ, sau khi giao ca xong mới được nghỉ ngơi.
Việc bảo quản phải đối diện với hàng loạt vấn đề, quan trọng nhất là chống phân hủy. Không những đảm bảo thi hài không thối rữa mà còn phải giữ được dung nhan, thần thái. Muốn giữ được lâu dài thì không được dùng mỹ phẩm trang điểm vì bất cứ thứ mỹ phẩm nào cũng đều gây hại cho thi hài, chỉ có thể dùng ánh sáng dịu màu hồng nhạt chiếu lên mặt để tạo hiệu quả gần với mức thật.
Thi hài yêu cầu phải được bảo quản lâu dài, nhưng từng phút từng giờ đang biến đổi, các nhà khoa học phải tìm cách làm cho những biến đổi đó diễn ra chậm nhất, nhỏ nhất. Vì vậy hàng ngày phải đo đếm, ghi chép tỷ mỉ, kỹ lưỡng, không được tắc trách. Nhiều phương pháp đo đếm phải nghĩ nát óc mới làm được. Ví dụ như độ cao thấp của da mặt, rất khó dùng phương pháp khoa học đo bằng thước, mà phải dùng nguyên lý đo địa hình trong bản đồ quân sự.
Dĩ nhiên diện tích nhỏ thì độ chính xác phải cao. Còn màu sắc da, lấy gì làm chuẩn để tính độ sẫm lên hay nhạt đi, sẫm lên bao nhiêu? nhạt đi bao nhiêu? Qua nghiên cứu và đọc tài liệu cuối cùng đã áp dụng phương pháp gọi là “Phương pháp xem tem” để tính toán.
Hàng ngày các nhân viên đều đem bảng màu chi tiết này đến để so sánh đối chiếu. Cứ 1 tháng, 3 tháng thì ngồi lại so sánh xem mức biến đổi đến đâu. Tuy có vẻ thô sơ, nguyên thủy nhưng thực ra chả có cách nào khác hữu hiệu hơn.
Vấn đề tiếp theo cần bàn tới là sau giai đoạn cách ly chân không, thi hài sẽ được bảo quản trong môi trường khí thể gì? Lúc đầu mọi người nghĩ ngay đến khí Nitơ, nhưng một chuyên gia đưa ra một loại khí khác tốt hơn là Heli, có điều giá thành sản xuất loại khí này rất đắt. Nếu bình thường thì chả ai dám nghĩ đến khí Heli, nhưng vì trong việc bảo quản thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông tiền không là vấn đề, mọi thứ phải tốt nhất, đó được coi là biểu hiện của sự trung thành.
Vấn đề bàn cãi tiếp theo là dùng ánh sáng màu gì để chiếu lên khuôn mặt thi hài. Có chuyên gia đề nghị dùng màu tươi, rực rỡ để thể hiện Chủ tịch Mao Trạch Đông rất mạnh khỏe. Nhưng lại có ý kiến bác lại, nói Chủ tịch đã mất rồi, dùng màu đỏ quá là không phù hợp. Mỗi vấn đề đó cũng phải mở tới mấy cuộc thảo luận mới tìm ra được màu sắc được coi là tương đối hài lòng.
Sáng ngày 6/10/1976, như mọi ngày, Ngô Giới Bình đến Mao Gia Loan, nơi đặt Phòng bảo quản thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông để làm việc. Vừa qua chốt gác thứ hai để vào đường hầm thì ông cảm thấy hôm nay có điều gì đó không bình thường.
Đoạn đường dốc khoảng 100 mét này trước đây không có lính gác, nhưng hôm nay đặt một hàng rào chướng ngại, người vào phải đi né sang bên cạnh. Có thêm mấy trạm gác được đặt, tất cả các cửa cuốn bằng sắt đều được kéo lên lơ lửng chỉ đủ để một, hai người chui qua. Các lính gác đều đứng thẳng, vẻ mặt rất nghiêm nghị, tra xét giấy tờ của tất cả mọi người ra vào dù đều đã quen mặt.
Mang theo vẻ hoài nghi đầy khó hiểu, Ngô Giới Bình đi xuống hầm thì thấy các sỹ quan Mao Duy Trung, Trương Diệu Từ của Cục Cảnh vệ đều không thấy có mặt. Đêm qua đã xảy ra chuyện gì vậy? Mãi sau này dần dần Ngô Giới Bình mới biết được ban lãnh đạo do Hoa Quốc Phong đứng đầu đã chính thức bắt giam “Nhóm 4 người” Vương, Trương, Giang, Diêu và phá tan tành mặt trận của chúng.
Đồng thời với việc đó, Bộ chính trị, Uỷ ban thường vụ quốc hội, Quốc vụ viện, Quân uỷ trung ương đã quyết định xây dựng Nhà kỷ niệm Mao Trạch Đông. Tức là: xây dựng Nhà kỷ niệm tại Bắc Kinh và sau khi xây dựng xong sẽ đưa linh cữu thuỷ tinh đựng di hài Chủ tịch Mao Trạch Đông vào Nhà kỷ niệm để đông đảo nhân dân được đến chiêm ngưỡng.
Quyết định này được công bố đã gây áp lực rất lớn lên những người đảm nhiệm việc xây dựng Nhà kỷ niệm và bảo quản thi hài. Qua hơn một năm làm việc liên tục suốt ngày đêm, khắc phục bao khó khăn, sáng sớm ngày 20/7/1977, đoàn xe chở thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông xuất phát từ “769” chạy vào Nhà kỷ niệm theo phương án đã định. Sau những thủ tục ngắn gọn, trưa hôm đó thi hài đã được đưa vào trong quan tài kính.
Phương án bảo quản cuối cùng được lựa chọn là kết hợp chất lỏng – chất khí. Để thực hiện, trong Nhà kỷ niệm đã lắp đặt một hệ thống thang máy an toàn, đáng tin cậy.
Khi Nhà kỷ niệm mở cửa cho nhân dân vào thăm thì thi hài được đặt vào vị trí có thể quan sát trong quan tài nhưng không được cho nước vào vì nhiệt độ trong quan tài rất thấp, nếu có nước sẽ bị ngưng sương, đành phải áp dụng phương pháp kết hợp khô ướt. Trong áo đều sẫm nước, tức là những phần không nằm trong tầm nhìn của mọi người thực ra đều được ngâm trong dung dịch, chỉ có mặt là ở môi trường khí.
Sau khi đóng cửa, thi hài lại được đưa xuống ngâm trong bồn kín đặt dưới hầm ngầm. Ngoài ra, hàng năm cứ sau sinh nhật Chủ tịch Mao Trạch Đông, tức là 26/12, thì tạm ngừng mở cửa Nhà kỷ niệm để ngâm thi hài trong dung dịch một thời gian dài, bổ sung phần nước đã bị mất.
Sau khi thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông được đưa vào Nhà kỷ niệm, công tác bảo quản bước sang giai đoạn mới, kỹ thuật cụ thể dần dần được quy phạm hóa, công tác nghiên cứu khoa học cơ bản tiếp tục được đẩy mạnh và cuộc hội thảo khoa học được tổ chức vào cuối năm. Đến đây, Tổ công tác bảo quản đã hoàn thành được sứ mạng của mình. Sau đó, các chuyên gia bảo quản vẫn còn phải tiếp tục gắng mọi nỗ lực mới hoàn thành được nhiệm vụ.
(BCN)
Theo phamvietdao và tintuchangngay >> (Từ đây đọc thêm nhiều nhiều!)

Mệnh lệnh từ trái tim

Mệnh lệnh từ trái tim – Tâm sự của một trí thức Việt Nam trước hiện tình đất nước

BS Nguyễn Quý Khoáng
image Trước tình hình đất nước ngày càng xuống dốc về xã hội, văn hoá, kinh tế, chính trị... nhất là tương lai Đất nước rất đen tối trước hoạ xâm lăng của Trung Quốc, là người trí thức Việt Nam, tôi tự thấy lương tâm bị cắn rứt khi cứ im lặng chấp nhận những điều chướng tai gai mắt diễn ra hàng ngày cũng như nghe những lời than vãn của đồng bào mình.

Mục sư Martin Luther King có nói:

– “Kẻ nào chấp nhận cái ác mà không phản đối chắc chắn là tiếp tay cho cái ác lộng hành” (He who accepts evil without protesting against it is really cooperating with it); và:

– “Cuộc đời của chúng ta bắt đầu chấm dứt khi chúng ta lặng thinh trước những vấn đề sống còn” (Our lives begin to end the day we become silent about things that matter).

Tôi luôn tự hỏi mình: Nếu mọi người dân, nhất là các trí thức, vì sợ hãi cho bản thân mình và gia đình mình, cứ tiếp tục im lặng trước hiện tình của Đất nước thì tương lai Nước ta sẽ đi về đâu? Chắc chắn sẽ rất đen tối! Trước lời kêu gọi của Nhà nước cho phép dân chúng góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 đến tháng 9 năm 2013 tới, nếu một số đông trí thức vẫn lặng thinh thì xem như chúng ta chấp nhận bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội đưa ra, nghĩa là vẫn “rượu cũ trong bình mới”, nghĩa là “vũ như cẩn”, vậy trách nhiệm với Đất Nước của chúng ta ở đâu?

Tôi đã cảm động đến rơi nước mắt khi nghe VIỆT KHANG hát bài “VIỆT NAM, QUÊ HƯƠNG TÔI ĐÂU?” và một trong những hình ảnh người đi biểu tình chống Trung Quốc trong những năm qua khiến tôi xúc động nhất là hình một cô gái Việt Nam khóc trong tuyệt vọng. Tôi có cảm nghĩ như cô đang hết sức đau lòng khi thấy người dân Việt bày tỏ lòng yêu nước mà lại bị chính quyền do mình “bầu” lên ngăn cản, đạp vào mặt, bắt bớ, giam cầm…

Chính vì các lý do trên mà mặc dù rất ghét chính trị, tôi tự thấy không thể tiếp tục lặng thinh được nữa. Tôi mong muốn sự lên tiếng của mình sẽ đóng góp một phần nhỏ cho sự thay đổi của Đất nước, cho tương lai của các con cháu chúng ta. Thay đổi hay không là tuỳ theo Đảng và Nhà nước có thật lòng lo cho Dân, cho Nước không? Còn nếu một ngày xấu trời nào mà Nước Việt chúng ta chịu chung số phận của nước Tây Tạng thì tôi cũng tự thấy mình đã làm hết sức rồi và sẽ không thẹn với lương tâm trước khi nhắm mắt. Nếu có ngày đó thật thì quả là sống không bằng chết, vì mất Tổ quốc là mất tất cả!

Đối với tôi, cuộc đời chỉ có ý nghĩa khi mình sống có ích cho người khác. Chính vì lý do đó, mặc dù có giấy bảo lãnh đi Canada đoàn tụ gia đình năm 1982, tôi đã chấp nhận ở lại quê hương để làm công tác của một Thầy thuốc, hầu xoa dịu bớt đau khổ của bệnh nhân cũng như đào tạo thêm các bác sĩ về X quang, Siêu âm. Thành thật mà nói, đến giờ phút này, tôi chưa bao giờ hối tiếc về sự chọn lựa đó.

Công tác tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh từ 1977 đến 1983, rồi tại Bệnh viện An Bình TP Hồ Chí Minh từ 1983 đến 2009, tổng cộng thời gian công tác là 32 năm, tôi được mời vào Đảng CSVN 2 lần nhưng đều đã từ chối vì không thích làm chính trị, không thích theo bất cứ một phe phái nào. Tôi chỉ thích làm chuyên môn và dạy học mà thôi.

Cách đây không lâu, tôi đã ủng hộ Kiến nghị sửa đổi Hiến Pháp 1992 do 72 nhân sĩ trí thức công bố ngày 19 tháng 1 năm 2013 với số thứ tự trong danh sách những người ký tên là 7034. Tôi biết khi làm việc này, tôi có thể gặp nhiều rủi ro, nhưng không sao, vì tôi đã sẵn sàng, đến chết là cùng chứ gì!

Xưa kia, tôi đã chọn ở lại quê hương để phục vụ bệnh nhân và các thế hệ thầy thuốc trẻ, giờ đây, tôi nói lên chính kiến của mình để xây dựng và bảo vệ Đất nước vì đối với tôi, cuộc đời mỗi người như một quyển tiểu thuyết đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố, quan trọng là quyển sách đó có hay không chứ không phải nó có dày hay không!

Nếu có một ngày tôi bị bắt, công an sẽ hỏi tôi (như đã từng hỏi những Bloggers, những người không đồng chính kiến, những người biểu tình…) là ai đã xúi dục, được cho bao nhiêu tiền… thì tôi đã có sẵn câu trả lời:

Không ai có thể xúi dục được tôi, không ai mua chuộc được tôi mà CHÍNH LƯƠNG TÂM TÔI ĐÃ MÁCH BẢO, CHÍNH TRÁI TIM TÔI ĐÃ THÚC DỤC TÔI LÀM THẾ!

Cuối cùng, xin cầu mong đất nước Việt Nam chúng ta được độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự.
Việt Nam, ngày 10 tháng 03 năm 2013
N.Q.K.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN