1 thg 6, 2012

Thư cám ơn

Cám ơn Văn Quốc đã dày công
Mằn mò sớm tối thật hết lòng
Đăng ký cả tên cho bè bạn
Nghĩa tình sâu nặng rộng mênh mông

Bạn bè trang lứa quan tâm nhau
Tình nghĩa mặn nồng cả trước sau
Cho dù thầm lặng hay sôi nổi
Tôi đánh giá cao chữ TÂM đầu

17h43 01.6.2012
HT

Tếu táo hàn huyên để test xem ntn


Tiền

Chữ Tiền cùng với chữ Tiên
Khác nhau chỉ một dấu huyền mà thôi
Nhưng Tiên ở tận trên Trời
Con Tiền thì ở dưới đời trần gian

Kè kè bị bạc vai mang
Tha hồ nói ngửa nói ngang mặc mình
“Thơm lừng” những tấm Đô xanh
Đồng tiền có lúc hôi tanh không lầm

Chữ Tiền thắng cả chữ Tâm
Đem tiền đấm mõm là câm tịt mồm
Tiền mua được cả linh hồn
Đồng tiền biến dại thành khôn ngất trời
Tiền, gây máu đổ xương rơi
Mua sông bán núi: tiền ơi là tiền

Tiền gây thất đảo bát điên
Ba chân dù vững như kiềng vẫn xiêu
Không tiền thì lại túng tiêu
Lắm tiền thì lại lắm điều lăng nhăng

Nhắn lên Tiên giới biết rằng
Dưới trần gian có khối thằng mua Tiên
Bởi vi chúng có đồng tiền
Nên/ hư: tiền, tựa ruột liền với thân

HT St

Khai sáng dân trí - lối thoát cho phong trào dân chủ Việt Nam ?

Hoàng Sư Phụ,
Fukuzawa Yukichi đã nói: “Cái hồn của một nước nào thì y phụ vào dân nước ấy. Cái hồn của dân tộc nước ấy lại y phụ vào thanh niên học sinh, ấy là linh hồn của nước dân vậy”.
Ai ai cũng ích kỷ cá nhân như vậy thật đáng trách, không hiểu dân tộc Việt sẽ đi về đâu? 
Nhìn lại bấy lâu nay, thanh niên học sinh trong nước ta trình độ ngày càng thụt lùi so với thế giới, há chẳng phải điều đáng lo cho quốc gia sao? Đặc biệt hơn là khi nói đến chuyện chính trị, hưng vong của đất nước mà sao lắm bạn trẻ cho là chuyện rỗi hơi, không cần quan tâm. Ai ai cũng ích kỷ cá nhân như vậy thật đáng trách, không hiểu dân tộc Việt sẽ đi về đâu?
Là những chí sĩ yêu nước, tự ta cảm thấy nỗi nhục dày vò về sự tụt hậu của đất nước. Vậy chúng ta phải làm gì để có thể thúc đẩy đất nước tiến đến văn minh phương Tây. Không còn đường nào khác là phải truyền bá, học hỏi các tư tưởng tiến bộ của các nước phương Tây mà nhiều lần chúng ta lỡ nhịp rồi.
Vấn đề tiếp thu tri thức nhân loại tại Việt Nam
1. Trong quá trình hiện đại hoá, mở cửa và đi theo con đường chung của nhân loại, điều then chốt là tiếp thu và học hỏi những tri thức của thế giới. Chúng ta không thể phát triển nếu không học những bài học kinh nghiệm và sử dụng những thành tựu trong quá trình phát triển của các quốc gia tiên tiến khác. Để từ đó, trên nền tảng văn hoá, bản sắc, lịch sử đặc trưng của Việt Nam tìm ra mô hình và bài học phù hợp cho sự phát triển của mình.
Hiện nay, một điểm yếu của việc nghiên cứu là thiếu những cuốn sách và tri thức nền tảng của thế giới, đặc biệt là về khoa học xã hội. Ngay cả các giáo viên và sinh viên ngành xã hội cũng không đủ điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu này. Sách vừa thiếu, ngoại ngữ kém…và ngay cả các sinh viên và nhà nghiên cứu giỏi cũng không dễ dàng tiếp cận được.
Nhật Bản bắt đầu công cuộc canh tân đất nước với công cuộc Minh Trị Duy Tân (1868) bằng cách tích cực học hỏi và tiếp thu những đặc điểm tiên tiến của văn minh Tây Phương. Trí thức Nhật Bản hiểu rằng muốn vượt Tây Phương thì trước hết phải khám phá để học lấy những bí quyết sở trường của Tây Phương không chỉ đơn thuần bằng việc mua súng đạn hay tàu chiến mà phải thấy được đâu là những "sở trường và bí quyết" của văn minh Tây phương. Họ cho rằng sách vở và những chuyến hành trình để "thám sát" các nước Tây Phương là cách tối ưu nhất để thu được kinh nghiệm và các bài học cần thiết để đạt được mục tiêu hiện đại hoá nước Nhật. Vì thế, việc tiếp thu văn hóa Tây phương được chính phủ Minh Trị đặt làm ưu tiên hàng đầu. Trong giai đoạn này, các dịch giả, điển hình là Fukuzawa Yukichi là những người đầu tàu trong việc truyền bá kiến thức và những tư tưởng tiên tiến của Tây Phương ở Nhật thông qua việc dịch và xuất bản rất nhiều sách vở của phương Tây để học lấy những tư tưởng cốt lõi phục vụ cho công cuộc cải cách.
Tôi kinh ngạc khi nhận thấy nhiều tác phẩm lớn của phương Tây đã được dịch ra tiếng Nhật từ rất sớm 
Tôi kinh ngạc khi nhận thấy nhiều tác phẩm lớn của phương Tây đã được dịch ra tiếng Nhật từ rất sớm, vào nửa đầu thời Minh Trị (giai đoạn 1870-1885) như History of Civilization in England của Henry Buckle; The Theory of Legislation - Principles of the Civil Code của Bentham; On Liberty, Political Economy, Representative Government, Utilitarianism của J.S. Mill; Social Statics của Herbert Spencer; De l'esprit des lois của Montesquieu; Du contrat social của Rousseau.
Sau thất bại trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895), Trung Quốc cũng tiến hành một chương trình tương tự. Những sĩ phu Trung Quốc có đầu óc cải lương với các lãnh tụ như Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu chủ trương rằng Trung Quốc cần thực hiện công cuộc canh tân theo gương Nhật Bản. Hàng ngàn sinh viên Trung Quốc đã sang Nhật du học và vô số sách báo tiếng Nhật đã được dịch sang chữ Hán. Đỉnh cao của việc dịch thuật các tác phẩm này diễn ra trong khoảng thời gian từ 1902 đến 1907, khi mỗi năm trung bình có hơn 50 cuốn sách dịch được xuất bản và năm 1903 đạt kỷ lục với 200 cuốn. Ngay trong thời gian này, chứ không phải chờ đến khi Đảng Cộng sản Trung quốc lên cầm quyền, tác phẩm Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản của Marx và Engels đã được dịch cho người Trung quốc. Như Lương Khải Siêu nói, "Các tư tưởng mới lan tràn như đám cháy" và những tư tưởng mới được truyền tải thông qua sách dịch đó đã góp phần mang lại cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc.
Cũng thông qua Tân Thư, các sĩ phu Việt Nam ở đầu thế kỷ 20 đã lĩnh hội được tư tưởng mới, điển hình là Phan Châu Trinh, Thân Trọng Huề, Ðào Nguyên Phổ. Nhìn lại Nguyễn Trường Tộ là nhà canh tân nổi tiếng của Việt Nam nhưng không thành công và khi đọc niên biểu và những hoạt động mà Nguyễn Trường Tộ thực hiện, tôi nhận thấy dù các kiến nghị ông viết rất nhiều và chính xác, nhưng ông không triển khai được các hoạt động kèm theo mà Fukuzawa đã làm, đó là dịch thuật và mở trường dạy học…để đào tạo ra một thế hệ mới. Cách tiếp cận của Nguyễn Trường Tộ là thuyết phục giới quan lại, nhà vua và triều đình; còn Fukuzawa Yukichi chọn cách xây dựng một tầng lớp mới, tạo dựng tinh thần mới cho cả dân tộc. Nhờ đó, Fukuzawa Yukichi đã thành công.
2 Trong lời Phát Đoan của bộ Nho Giáo, Trần Trọng Kim viết “Xét ra cho kỹ, sự bỏ cũ thay mới của ta hiện thời bây giờ không phải là không cấp bách, nhưng vì người mình nghĩ nông nổi, không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại cả đi. Thành thử cái xấu, cái dở của mình thì vị tất đã bỏ đi được mà lại làm hỏng mất đi cái phần tinh tuý đã giữ cho xã hội ta bền vững hàng mấy nghìn năm”.
Có lắm người tưởng rằng mình bắt chước người ngoài là điều có ích cho sự tiến hoá của nòi giống mình. Không ngờ rằng, sự bắt chước vội vàng quá, không nghĩ cho chín, lại thành cái độc, gây ra thứ bệnh cho xã hội mình…Mỗi dân tộc có một cái tinh thần riêng, cũng như mỗi cây có cội rễ đâm xâu xa xuống đất. Hễ cây nào tốt, hút được nhiều khí chất thì cành lá rườm rà. Dân tộc nào cường thịnh là người đã biết lưu giữ cái tinh thần của mình được tươi tốt luôn.”
Cho đến nay, 100 năm sau khi Trần Trọng Kim viết Việt Nam Sử lược, tính cách của người Việt Nam vẫn không hề thay đổi.
3. Trong cuốn Tâm lý đám đông, Le Bon viết “Một dân tộc là một cơ thể sống được sinh thành bởi quá khứ nên cũng giống như mọi cơ thể sống khác, nó chỉ có thể biến chuyển bởi những tích tụ từ đời này qua đời khác một cách chậm chạp và lâu dài. Những thay đổi mà con người có thể tạo ra chỉ là thứ bề ngoài…
Nếu không có truyền thống, tinh hoa của dân tộc hay nền văn minh dân tộc đó không thể được hình thành. Vì thế, con người sẽ có hai mối quan tâm chính kể từ khi được sinh ra, là thiết lập cho mình một hệ thống những tập tục, và cũng chính là thứ mà con người sẽ nỗ lực phá bỏ khi những tác dụng hữu ích của chúng không còn nữa. Không thể có nền văn minh nếu thiếu truyền thống nhưng không thể có phát triển nếu không phá bỏ những truyền thống đó. Khó khăn nan giải nhất là tìm ra sự cân bằng giữa ổn định và phát triển, tức là sự biến đổi. Nếu một dân tộc cho phép truyền thống của mình bám rễ quá sâu và quá vững chắc thì sẽ chẳng còn gì có thể thay đổi được nữa... Trong trường hợp đó, những cuộc cách mạng bạo động cũng chẳng mang lại điều gì bởi khi đó, những mảnh vỡ của hệ thống phong tục lại dần dần gắn bó lại với nhau để rồi trở lại thời quá khứ mà không hề có chút thay đổi nào…”
Làm thế nào để truyền bá tư tưởng tiến bộ của phương Tây?
Các xã hội phát triển Âu - Mỹ được xây dựng trên những nền tảng tri thức vững chắc, vốn được kế thừa và phát triển từ thời Hy Lạp, La Mã, qua các thời kỳ Phục Hưng, Khai sáng và thời kỳ Chủ nghĩa hiện đại của thế kỷ XIX - XX. Tất cả những tri thức nền tảng này đều được đúc kết trong tác phẩm của những học giả nổi tiếng (Plato, Aristote, Newton, Darwin, Kant, Hegel, Tocqueville, Mill, Russell, Wcher, Smith. Hayek...), chúng làm nền móng cho tòa nhà tri thức phương Tây, làm cơ sở cho triết học, khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn, nghệ thuật, xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền. ..

Người Nhật đã biết tiếp thu kiến thức phương Tây từ rất sớm.
Nhiều quốc gia khác đã học tập phương Tây như Nhật Bản khi nhận ra rằng đằng sau sức mạnh bề ngoài về quân sự và công nghệ, phương Tây còn sở hữu một lâu dài tri thức đồ sộ. Ngay từ thời Minh Tri cách đây 120 năm, giới trí thức Nhật Bản đã quyết tâm dịch những tác phẩm kinh điển phương Tây ra tiếng Nhật. Việc dịch thuật đã trở thành chiến lược quốc gia, góp phần quyết đinh vào việc xây dựng cơ sở nền tảng cho các ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học nhân văn của Nhật Bản, giúp nước này chỉ trong thời gian ngắn đã đuổi kịp phương Tây, xây dựng được một xã hội giàu có, dân chủ và tiến bộ hàng đầu thế giới, đồng thời vẫn giữ được bản sắc hết sức riêng biệt của mình.
Con đường canh tân của Nhật Bản đã làm bài học và hình mẫu cho giới trí thức Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác ở Châu Á. Việt Nam cũng là một quốc gia nằm trong quỹ đạo tư tưởng Đông Á. Những người đi tiên phong như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh rồi điển hình như Phan Chu Trinh... đã bắt tay vào dịch những tác phẩm phương Tây để truyền bá tới công chúng Việt Nam. Nhưng vì nhiều lý do khiến cho việc dịch thuật những tác phẩm rường cột của phương Tây diễn ra chậm chạp. Như vậy. Việt Nam đã đi sau các nước Châu Á nói trên không chỉ về kinh tế mà còn cả về học thuật. Riêng về học thuật việc thiếu những cuốn sách rường cột được dịch ra tiếng Việt khiến cho Việt Nam bị mất để và tụt hậu so với thế giới.
Như chúng ta đã biết, tình hình tiếp nhận tri thức tiến bộ phương Tây tại Việt Nam là rất tồi tệ rồi. Vậy nhân dịp ra mắt hàng loạt các tác phẩm kinh điển về tư tưởng của phương Tây tại Việt Nam, chúng ta nên tổ chức các câu lạc bộ, hội nghiên cứu về tư tưởng phương Tây để dễ dàng truyền bá hơn tư tưởng phương Tây vào Việt Nam. Qua tiếp nhận trí thức mới này thì mới mong thúc đẩy được dân chủ tại Việt Nam, nơi nhiều người còn lơ mơ về nhân quyền và dân chủ.
Chúng ta có tổ chức được 1 ngôi trường tư thục như Đông Kinh Nghĩa thục ngày xưa của cụ Phan để truyền bá các tư tưởng này ta nghĩ còn tốt hơn rất nhiều. Bây giờ tại VN đã cho phép lập trường tư thục rồi.
Trên đây chỉ là chút ý kiến của tôi, mong các vị đóng góp. Về trí và lực thì tôi vẫn chưa đủ nên cần các vị hỗ trợ thêm để ý tưởng này thành hiện thực.
Billy gửi hôm Thứ Sáu, 15/05/2009

Lột đồ chịu nhục


Bà Phạm Thị Lài (SN 1960) và con gái là Hồ Nguyên Thủy (SN1979) đã khỏa thân để giữ phần đất mà họ cho rằng đã bị Công ty CIC 8 chiếm đoạt một cách thiếu minh bạch. Người chồng, sức yếu, thế cô, cổ ngắn uất ức đến nỗi đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Còn giờ, hai người phụ nữ nói họ chấp nhận “lột đồ chịu nhục” để phản đối. Bởi “tài nguyên” mà họ bảo vệ chính là ngôi nhà, là sinh kế của họ.

Để dân phải nổ súng, đặt bom, hay tự tử, lột đồ để giữ đất, nói cách gì cũng là lỗi của ai đã đẩy họ vào bước đường cùng.
Theo Đào Tuấn

Nghĩ ngợi ngày 1/6

Tĩnh lặng để nghĩ ngày 1/6 mà chua.
    Thế hệ ông bà các cháu đang khoác lên những đôi vai nhỏ xíu kia những món nợ khổng lồ!
   Tài nguyên đất nước khai thác tràn lan, còn đâu nữa mà dành cho các cháu và con cháu các cháu.
    Hậu họa khôn lường từ Tây Nguyên, từ nhà máy điện hạt nhân (nếu vẫn xây dượng)... sẽ đổ lên đầu các cháu!
   Và dành cho các cháu 1 môi trường bị xâm hại ghê gớm do các dự án sân gôn, thủy điện, nhà máy lạc hậu về công nghệ thải bao nước độc.
   Đặc biệt dành cho các cháu 1 nền văn hóa thụt lùi, đã đang và sẽ xói mòn nhân cách các cháu!

CCB Đặng Ngọc Định

Đây là toàn văn mail Định vừa gửi nhờ tớ chuyển đến Nguyễn Dũng:
 
Sinh ngày: 25 tháng 01 năm 1952
Quê quán: Xã Hải Vân; Huyện Hải Hậu; Tỉnh Nam Định.
Nơi ở hiện nay: số 4 nhà A1 khu đô thị Đại Kim, Phường Định Công; Quận Hoàng Mai; TP Hà Nội
Nhập ngũ: ngày 22 tháng 9 năm 1972 tại đơn vị C1.D495. E568.
Trước khi đi bộ đội là SV Lớp Máy tính 69 (K14), Khoa Vô tuyến điện.
Đi B  tháng 1 năm 1973. Vào Đảng ngày 05 tháng 3 năm 1973
Từ tháng 01 năm 1973 đến tháng 6 năm 1975 biên chế tại đơn vị C3. D140. E13. Quân khu C50
Được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng III.
Xuất ngũ: Tháng 1 năm 1976 trở về trường học tại Lớp kỹ thuật K19A, Khoa Vô tuyến điện ĐHBK Hà Nội.
Ngày 22 tháng 12 năm 1979 về nhận công tác tại Phòng Vật tư kỹ thuật - Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội cho đến nay.

Để lâu chân trâu hóa... đùi

Thứ ba, ngày 29 tháng năm năm 2012
Mình phải trại cái câu tục ngữ kia để blog mình khỏi tục, vì nhắc đến một từ "nhạy cảm". Nó cũng nhạy cảm như những từ cưỡng chế, mất đất, oánh dân... hiện nay.
Là hôm qua mình thấy thủ tướng phải có hẳn một yêu cầu riêng về vụ Văn Giang, cái vụ mà phó chủ tịch thường trực tỉnh và chánh văn phòng luôn miệng ca ngợi thành công tốt đẹp, không có ai bị đánh và có địch lợi dụng, địch tường thuật trực tiếp từng phút và dựng clip giả bôi nhọ chính quyền.
 
Thấy công an Hưng Yên hẹn làm việc với VOV rồi lại hoãn. Thấy mấy cặp... chân trâu đang hóa đùi trâu thì thủ tướng nhắc, nói rõ vụ đánh người, phải xử lý nghiêm.
 
Thấy thương mấy chú dùi dục chấm mắm cáy, đụng hàng thứ thiệt rồi. Khi oánh, chắc chắn các chú phải được lệnh từ thượng cấp, cộng với tính côn đồ cố hữu, các chú oánh cho sướng tay. Giờ chắc chắn theo lệnh thủ tướng, làm nghiêm thì các chú chết trước. Lại khổ mẹ và vợ các chú.
 
Nhưng chưa chắc. Vụ Tiên Lãng đấy, thủ tướng cũng quyết ngay, quyết quyết liệt. Nhưng đến giờ, chân trâu cũng hóa đùi trâu rồi. Cái nhà bị phá tan hoang giữa thanh thiên bạch nhật thế, các cơ quan chức năng Hải Phòng giờ này vẫn chưa định giá xong và chưa xác định ai phá, đồng nghĩa chưa khởi tố bị can vụ phá tài sản công dân được. Tương tự ông chánh hưng Yên bảo cái clip mờ mịt thế ai thấy ra ai mà điều tra. Chỉ ông là không thấy thôi chứ ai cũng thấy hết, ai cũng rõ cái việc này nó dễ hơn... cắt móng tay nữa, nhưng đến giờ, ở báo cáo mới nhất, vẫn là: thành công tốt đẹp, không ai bị đánh.
 
Hôm nay báo đồng loạt đưa tin, vợ ông Vươn đã gửi đơn đề nghị rút quyết định khởi tố 2 người đàn bà chống người thi hành công vụ, khi họ không có mặt ở cuộc cưỡng chế, đồng nghĩa với việc họ không thể chống người thi hành công vụ. Hơ hơ, vụ này còn nhiều điều hay.
 
Có điều qua 2 vụ này, nhờ thế thủ tướng nên ta có thể yên tâm, từ nay chắc sẽ ít còn công bộc dám láo với dân, coi dân là thế lực thù địch, muốn đánh thế nào thì đánh, muốn bắt thế nào thì bắt...

Cứ là tin tưởng thế nhé nhé...

Được đăng bởi Văn Công Hùng vào lúc 08:59:00
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên Facebook

8 nhận xét:
Nặc danh nói...
    Bác Hùng bị hớ rồi , bác cần đọc kỹ chỉ thị của TT , tôi xin trích :
    "Thủ tướng vừa yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo Công an tỉnh Hưng Yên phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật khẩn trương điều tra; nếu đủ căn cứ phải khởi tố vụ án để xử lý theo đúng quy định của pháp luật đối với những hành vi gây rối trật tự công cộng và đánh người trong việc tổ chức cưỡng chế ngày 24/4/2012 tại Văn Giang, Hưng Yên."
    Vụ đánh người là nhỏ, vụ gây rối trật tự công cộng mới là chính. Mà ai gây rối thì bác tự hiểu, chẳng nhẽ là các đ/c CA ?
    10:09 Ngày 29 tháng 5 năm 2012

31 thg 5, 2012

CCB, LS lớp Bán Dẫn 69

Danh sách các bạn lớp Bán Dẫn 69 đi bộ đội những năm còn ngồi trên ghế trường đại học Bách Khoa Hà Nội
1- Nguyễn văn Chanh, nhập ngũ 26-8-1970
2- Nguyễn văn Chấn, nhập ngũ 26-8-1970
3- Đỗ Mạnh Tôn, nhập ngũ 26-8-1970
4- Nguyễn Xuân Boong, nhập ngũ 26-8-1970
5- Nguyễn Xuân Thu, nhập ngũ 26-8-1970
6- Lê Đức Thái, nhập ngũ 26-8-1970
7- Nguyễn Đức Thao, nhập ngũ 26-8-1970 Liệt sĩ
8- Nguyễn Ngọc Minh, nhập ngũ 26-8-1970
9- Trần Thành Đô, nhập ngũ 6-9-1971
10- Nguyễn Tư Thảo, nhập ngũ 6-9-1971 Liệt sĩ
11- Lê văn Cúc, nhập ngũ 25-5-1972
12- Trần Nguyên Quí, nhập ngũ 25-5-1972
13- Bùi văn Vững, nhập ngũ 25-5-1972 Tử sĩ

Giaỉ thưởng Phan Châu Trinh

Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh và tinh thần Nhật Bản

LGT: Chắc chắn tại thời điểm này, không fải ai cũng biết đến GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH. Vậy đăng bài này từ trang 'Thể thao văn hóa' để ai chưa đọc đến thì tham khảo, qua đó thấy được phần nào chủ trương đúng đắn, vĩ đại của Cụ - chủ trương đưa dân tộc thoát ra khỏi vòng nô lệ theo kiểu Nhật Bản. (vì những lý do khác nhau mà bài báo kg thể nói rõ hơn, cụ thể hơn). Đây là 1 giải thưởng kg fải của nhà nước, nhờ sự giúp đỡ của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình mới lập ra được.
(Vào google gõ Giải thưởng Phan Châu Trinh sẽ ra cả đống trong nháy mắt, tiếc rằng kg 1 bài báo nào có thể viết cụ thể hơn được)

Nhà văn Nguyên Ngọc
Ảnh: Ngô Vương Anh
(TT&VH Cuối tuần) -Giải thưởng của Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh năm nay được trao trong những giờ khắc thế giới kinh ngạc và ngưỡng mộ tinh thần tự chủ Nhật Bản trước động đất, sóng thần. Ít ai biết, cách đây cả trăm năm, cụ Phan Châu Trinh đã nhìn ra căn nguyên văn hóa của sức mạnh, con đường hình thành sức mạnh ấy. Con đường hình thành sức mạnh từ văn hóa, qua văn hóa mà cụ Phan Châu Trinh chủ trương - giờ đã trở thành tôn chỉ của giải thưởng văn hóa mang tên ông. Nhân dịp giải thưởng vừa được trao chiều qua tại TP.HCM, TT&VH Cuối tuần có cuộc trao đổi với Chủ tịch Hội đồng khoa học Quỹ, nhà văn Nguyên Ngọc.
* Tiền thân là một giải thưởng dịch thuật, giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh sau này vẫn rất gần với những tác phẩm dịch thuật. Vì sao vậy, thưa ông?
- Về dịch thuật, nên nói đến trường hợp Nhật Bản, nước có lẽ đã dịch nhiều nhất thế giới với chiến lược quốc gia. Ngay từ thời Minh Trị, người Nhật đã lên kế hoạch dài để dịch rất nhiều tác phẩm lớn của nhân loại. Từ thời đó, họ đã dịch và xuất bản tác phẩm Bàn về tự do (On Liberty) của John Stuart Mill chỉ mấy năm sau khi nó ra đời ở Anh, và in đến 2 triệu bản trong khi dân số nước Nhật bấy giờ mới chỉ có 32 triệu người. Sức lan tỏa của những tư tưởng đó, như cụ Phan Châu Trinh đã nghiền ngẫm, đúc kết, đã mang lại sức mạnh kỳ diệu cho đất nước này................
 Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh 2010 vừa trao cho 6 nhà nghiên cứu và dịch giả thuộc các lĩnh vực:
 Giải thưởng giáo dục trao cho GS Hoàng Tụy với những nghiên cứu và đề xuất của ông về cải cách giáo dục suốt hơn mười năm qua.
 Giải thưởng nghiên cứu trao cho nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân với các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam và đặc biệt là văn bản học tiếng Việt.
 Giải thưởng dân tộc học dành cho hai học giả nước ngoài: nhà văn, nhà phê bình Kevin Bowen (Mỹ) - người có rất nhiều đóng góp trong việc giao lưu, tìm hiểu văn hóa và thúc đẩy ngành Việt Nam học tại Mỹ và nhà dân tộc học Ivo Vasiliev (Séc) - người đã công bố nhiều nghiên cứu giá trị về ngữ pháp Hán - Việt và di sản Việt cổ.
 Giải thưởng dịch thuật trao cho dịch giả Phạm Văn Thiều với các bản dịch tác phẩm của nhà vật lý Trịnh Xuân Thuận và dịch giả Nguyễn Đôn Phước với các đầu sách kinh điển về kinh tế.
    Giải thưởng năm 2012: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/64931/gs-tra-n-van-khe-go-i-gia-i-thuo-ng-phan-chau-trinh-la--tri-am.html

* Nói đến Phan Châu Trinh, hầu như người Việt Nam nào cũng biết, nhưng không phải ai cũng hiểu về tinh thần Phan Châu Trinh. Ông có thể nói rõ hơn về tinh thần này, điều mà Quỹ và Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh đã nêu lên làm phương hướng?

- Những năm gần đây các nghiên cứu về Phan Châu Trinh được đẩy mạnh hơn, đã dần soi sáng được ngày càng rõ hơn một số điểm cốt lõi trong tư tưởng và sự nghiệp của ông. Như chúng ta đều biết, đầu thế kỷ XX, sau khi phong trào Cần Vương thất bại và tan rã, đã có sự khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối cứu nước, làm thế nào để có thể đưa dân tộc thoát ra khỏi vòng nô lệ tàn khốc. Trong tình hình vô cùng bức xúc đó, như sau này học giả Hoàng Xuân Hãn nói, Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và đã tìm ra nguyên nhân mất nước ở trong văn hóa, trong sự thua kém về văn hóa của chúng ta so với đối thủ của mình cả một thời đại. Suốt hàng nghìn năm trước, chúng ta đã phải liên tục chống ngoại xâm và rất nhiều lần phải chống lại đối thủ đông mạnh hơn ta nhiều lần. Nhưng dẫu đông lớn đến mấy, về mặt lịch sử, đối thủ đó là cùng một thời đại với ta, ngang bằng ta về thời đại…

Có thể nói Phan Châu Trinh là người đầu tiên nhận diện được hết sức rõ ràng “đối thủ mới”, khác hẳn đối thủ truyền thống suốt nghìn năm trước. Hoặc nói như ngôn ngữ thời nay, ông là người đầu tiên nhận ra tình thế “toàn cầu hóa”, cuộc toàn cầu hóa lần thứ nhất, có thể gọi như vậy, khi chúng ta giáp mặt với phương Tây, tức với toàn thế giới rộng lớn mà từ nay ta bắt buộc phải sống trong đó, tồn tại và phát triển trong thế giới đó, hay suy vong và mãi mãi chịu nô lệ. Như vậy cách đặt vấn đề của Phan Châu Trinh khác hẳn những chí sĩ đương thời chỉ thấy và chủ trương một cuộc chiến đấu chống ngoại xâm hệt như tổ tiên đã chiến đấu chống xâm lược Trung Hoa suốt lịch sử trước. Phan Châu Trinh chủ trương nâng dân tộc mình lên cho ngang bằng đối thủ mới, bằng một cuộc khai hóa lớn, mà ông gọi là “khai dân trí”, để từ đó mới chấn hưng được dân khí, và đi đến làm cho đất nước phồn vinh phát triển (hậu dân sinh). Nếu bằng cách nào đó giành được độc lập, mà dân trí vẫn lạc hậu u muội, thì độc lập đó cũng chẳng có nghĩa gì và không thể vững chắc…

Chúng ta đã biết, do những điều kiện éo le và khắc nghiệt, chương trình sáng suốt của Phan Châu Trinh bị dở dang. Vậy nên công cuộc khai hóa mà vị tiền bối anh minh đã chỉ ra một trăm năm trước ngày nay nhất thiết phải được tiếp tục, càng phải sâu sắc, cơ bản và khẩn trương hơn, trong điều kiện toàn cầu hóa đầy thách thức ngày nay.

Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh và Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lấy mục tiêu góp phần vào công cuộc tiếp tục khai hóa đó làm tôn chỉ cao nhất của mình.

CCB nhập ngũ từ Máy tính 69

Đây là ảnh các CCB nhập ngũ từ lớp Máy tính 69 (k14vt). Ảnh cắt ra từ tập ảnh của lớp còn lưu lại. Còn thiếu ai thì Tất Nam, bác Quốc, Huệ, TM Phương bổ xung nhé: (sửa lần 1 sau Góp ý của Tất Nam).

Lần lượt điểm theo thứ tự ảnh trên:
1/ Bùi Huy Nhiệm, Nhập ngũ tháng 6/1971, Quê: Kiến An, Hải Phòng.
2/ Đặng Ngọc Định
3/ Lê Ngọc Bảo, Nhập ngũ 1970
4/ Lê Ngọc Hợt, Nhập ngũ ngày 10-1-1972, quê Thanh hóa
5/ Lương Xuân Thanh, Nhập ngũ 1970
6/ Nguyễn Toàn Thắng
7/ Nguyễn Văn Nhượng, Nhập ngũ 1970, Quê: Thanh Chương, Nghệ An.
8/ Nguyễn Đình Hùng
9/ Phạm Ngọc Lễ
10/ Nguyễn Văn Tuấn, Nhập ngũ 1970
11/ Phạm Văn Ôn
12/ Tân Văn Đoàn, Ngày nhập ngũ: 25/5/1972, quê Hải Dương.
13/ Thái Doãn Đồng, nhập ngũ 6/9/1971, Quê: Diễn Châu, Nghệ An .
14/ Thẩm Ngọc Huy, Nhập ngũ 6/9/1971, Nguyên quán: Long Biên, Hà Nội.
15/ Trần Nguyên Bá, Nhập ngũ ngày 26/08/1970, quê Nam Định.
16/ Trịnh Anh Đức, Nhập ngũ đợt 3 năm 1972 tại Phú Xuyên, Hà Tây, Quê: Thuỷ Khuê, Ba Đình, Hà Nội
17/ Trịnh Minh Tân

Rất có thể đến thời điểm này các CCB sau đã kê khai: 1/ Lê Ngọc Hợt (Email), 2/ Tân Văn Đoàn (điều tra), 3/ Trần Nguyên Bá (Emạil), 4/ Trịnh Đình Tân (đọc cho Dũng ghi), 5/ Lê Ngọc Bảo (đến tận nơi làm việc của Dũng), 6/ Thẩm Ngọc Huy (đã có). Bạn Nguyễn Dũng, biên tập viên hội CCB cho ý kiến bổ xung nhé!
Đề nghị các CCB còn lại khẩn trương kê khai nhé, nhé.
Tất Nam chép lại danh sách này vào Nhận xét của cậu và điền ngày nhập ngũ, quê quán của từng người hộ nhé (chú ý đọc lại các email Hợt, Bá đã gửi và Đoàn đã có).Tao bận và mệt mỏi quá!

Nhớ "Một thời hoa lửa"

Thư của Nguyễn Dũng gửi Blog k14vt lúc: 22:38 Thứ Tư, 30 tháng 5 2012

Nguyễn Dũng xin thay mặt BBT Kỷ yếu CCB-Hội CCB ĐHBK HN gửi lời chào và lời cảm ơn chân thành tới các anh chị K14-VTĐ-ĐHBK HN.
Thời gian qua, Ban biên tập kỷ yếu CCB ĐHBK đã nhận được sự hưởng ứng, giúp đỡ nhiệt thành, chí tình của các anh chị tại blog k14vt.blogspot.com
 
Qua đó, chỉ với thời gian ngắn mà chúng tôi đã nhận được nhiều thông tin quan trọng, hữu ích về CCB và Liệt sỹ, góp phần tích cực cho việc hoàn thành cuốn Kỷ yếu CCB ĐHBK HN. Chúng tôi rất mong còn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các anh chị (nhất là những trường hợp dữ liệu chưa được đầy đủ về CCB và LS)
Hiện đã có được 21 dữ liệu về CCB và LS. Một con số không hề nhỏ. Rất cảm ơn về sự kịp thời của sáng kiến về mục "Lần tìm đồng đội". Nó làm cho sự giao lưu của mọi người trong blog có nội dung phong phú và chất lượng hơn. Nếu nói là sự giáo dục truyền thống với chúng ta thì không phải, nhưng bất cứ ai vào blog này sẽ thấy những nỗi niềm của một thời. Nó làm chúng ta gắn bó với nhau hơn.
Xin gửi tới các anh chị 2 bài viết về tượng đài "Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ quốc" 

       Từ ngày 15 tháng 3 năm 2010, vào mỗi Thứ Hai hàng tuần tại Quảng Trường C2, nơi ghi dấu những nét son của sinh viên các trường ĐH Thủ đô nói chung và của Thầy và Trò trường ĐH Bách Khoa Hà Nội nói riêng, chi đoàn các lớp sinh viên K54 tổ chức Lễ Chào cờ truyền thống đầy ý nghĩa
 Tháng Thanh niên luôn là tâm điểm cho các hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ở tất cả các cấp với nhiều hoạt động ý nghĩa nhằm mục đích tạo những sân chơi bổ ích cho sinh viên, đồng thời cũng góp phần giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Hưởng ứng Tháng Thanh niên năm 2010, được sự đồng ý của Đảng Ủy – Ban Giám hiệu, BCH Đoàn trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giao nhiệm vụ cho BCH LCĐ sinh viên năm thứ nhất K54 tổ chức Lễ Chào cờ truyền thống vào tất cả các ngày Thứ Hai hàng tuần. Lễ Chào cờ truyền thống là cơ hội để Đoàn trường Đại học Bách khoa Hà Nội khơi dậy trong đoàn viên, sinh viên một nghi thức thiêng liêng và tự hào nhất đối với mỗi người dân Việt Nam – được hát vang quốc ca trong tiếng nhạc hùng tráng dưới quốc kỳ đỏ thắm – một nghi thức nhiều khi đã không được thực hiện trong những buổi lễ có đông đảo sinh viên tham gia. Lễ Chào cờ cũng là dịp để đoàn viên sinh viên rèn luyện ý thức kỷ luật, thái độ nghiêm túc khi tham gia các hoạt động tập thể.
 
       Bên cạnh ý nghĩa cao đẹp và thiết thực đó, trong khuôn khổ Lễ Chào cờ, được sự hỗ trợ của Hội cựu chiến binh và Phòng Công tác Chính trị - Công tác Sinh viên của trường, BCH LCĐ K54 cũng đã lồng ghép giới thiệu về phong trào “Ba sẵn sàng” của tuổi trẻ Thủ đô Hà Nội trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội và ĐH Y Hà Nội là 3 chiếc nôi khởi xướng; giới thiệu và dâng hoa tưởng niệm tại tượng đài “Gác bút nghiên lên đường cứu nước”; thăm phòng truyền thống của trường để giới thiệu truyền thống vẻ vang của ĐH Bách Khoa Anh Hùng. Cũng trong khuôn khổ Lễ Chào cờ, các kế hoạch, chương trình hành động của Đoàn Thanh niên trường trong cả học kỳ, của mỗi tháng, và hàng tuần được giới thiệu đến các bạn sinh viên. Ngoài ra, các Thầy, Cô giáo là cố vấn học tập và các lớp sinh viên cũng có thể kết hợp với hoạt động này để tổ chức họp lớp hoặc sinh hoạt chi đoàn.
       Theo kế hoạch, buổi Lễ Chào cờ truyền thống được triển khai đến tất cả các lớp sinh viên K54, được chia theo giảng đường và luân phiên thực hiện vào buổi sáng hoặc buổi chiều Thứ Hai hàng tuần. Các lớp học buổi sáng sẽ chào cờ vào buổi chiều và ngược lại, kéo dài cho đến hết học kỳ 2 năm học 2009-2010. Các bạn sinh viên tham gia Lễ Chào cờ đều được yêu cầu trang phục chỉnh tề, đeo huy hiệu đoàn và giữ gìn kỷ luật, trật tự trong thời gian diễn ra buổi lễ.
         Mặc dù chưa có được điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, các Thầy, cô giáo là cố vấn học tập chưa bố trí được thời gian tham gia đầy đủ với các lớp sinh viên, nhưng với sự sáng tạo của BCH LCĐ K54, Lễ Chào cờ truyền thống đã diễn ra trang trọng và đúng nghi thức. Qua ba buổi thực hiện vào các ngày 15, 22, và 29/3 vừa qua, có thể nhận thấy các bạn sinh viên đã rất nhiệt tình hưởng ứng, háo hức chờ đợi và nghiêm túc tham gia Lễ Chào cờ truyền thống. Khi đội cờ rước 3 lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc và cờ Đoàn về vị trí, khi tiếng nhạc hùng tráng của Quốc ca, sôi nổi của Đoàn ca vang lên, mỗi đoàn viên, sinh viên đều cảm thấy trào dâng niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước cũng như cảm nhận được trách nhiệm của tuổi trẻ trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, tu dưỡng để lập thân, lập nghiệp, xây dựng đất nước.

                         TƯỢNG ĐÀI “SINH VIÊN LÊN ĐƯỜNG BẢO VỆ TỔ QUỐC”
                         TƯỢNG ĐÀI CỦA “MỘT THỜI HOA LỬA”
      Về thăm trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội trong thời gian gần đây, giữa những công trình đồ sộ như Thư viện Tạ quang Bửu hay hệ thống đài phun nước trước tòa nhà chính C1, bạn hãy đến thăm một địa điểm đặc biệt, đó là tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ Quốc” mà anh em cựu chiến binh chúng tôi thường gọi là tượng đài của “Một thời hoa lửa”
       Không giống bất kỳ một mô tip của một đài kỷ niệm về chiến tranh nào, không có hình tượng người lính với khẩu súng trong tay hoặc hình ảnh ước lệ cây bút và khẩu súng, tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ quốc”được hình thành từ đá cẩm thạch nguyên khối, màu trắng tinh khiết, xinh xắn trong khoảng đất chừng mười mét vuông, đứng trang trọng giữa bãi cỏ xanh rì, dưới tán lá của cây muỗm già, một cây thuộc loại cổ thụ nhất trong khuôn viên Nhà trường. Với một bố cục giản dị và đầy ý nghĩa, một chiếc mũ gắn Quốc huy đặt ngay ngắn trên quyển sách đang mở, tượng đài giống như là một bục giảng hay một bàn học trò mà chủ nhân của nó vừa chợt đi đâu và nhất định sẽ trở về. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Anh Cả của lực lượng vũ trang Việt Nam khi khánh thành tượng đài đã đề lời tặng “Tổ Quốc ghi công lớp lớp thầy giáo, sinh viên đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu và đóng góp xứng đáng vào chiến thắng của dân tộc. Tinh thần yêu nước mãi mãi là ngọn lửa soi sáng các thế hệ thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước trở thành quốc gia giàu mạnh, hòa bình và hạnh phúc”.
      Được xây dựng vào tháng 10 năm 2006, đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ Quốc” minh chứng sự tôn vinh của những người đang sống đối với một thế hệ sinh viên, đặc biệt là thế hệ sinh viên – chiến sỹ. Tại nơi đây, tháng 9 năm 1971, trên 600 sinh viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội cùng với hàng ngàn sinh viên của các trường Đại Học Tổng Hợp, Đại Học Xây Dựng, Đại Học Kinh Tế Quốc Dân…  đã tạm gác bút nghiên, tạm biệt thầy cô, bạn bè và mái trường để lên đường vào Nam chiến đấu. Như một sự xắp đặt của lịch sử, tất cả những người lính trẻ ấy đã được bổ sung vào một mặt trận và cùng tham gia những trận chiến đấu ác liệt nhất để giành lại và gìn giữ từng tấc đất của Thành Cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Trong những cuộc chiến đấu khốc liệt ấy, hàng trăm người lính sinh viên đã không bao giờ được trở lại mái trường thân yêu nữa, họ đã liệt oanh ngã xuống giữa chiến trường. Máu của họ đã thấm đẫm những tấc đất Thành Cổ Quảng Trị hoặc đã hòa vào dòng Thạch Hãn đau thương và anh hùng.
      Sau cuộc chiến gian khổ ấy, những người lính còn lại lại trở về với cuộc đời sinh viên. Không một chút phàn nàn, họ đã học tập giữa những trận sốt rét, giữa những cơn đau của vết thương, giữa những khó khăn của đời thường nhưng với một tinh thần mới và đã trưởng thành. Trong số họ, nhiều người đã trở thành những nhà khoa học giỏi, những nhà giáo chân chính, những nhà quản lý tài năng hoặc những sỹ quan cao cấp của quân đội. Họ đã sống, làm việc và cống hiến thật nhiều cho cuộc đời, với trách nhiệm của những người lính.
      Hôm nay, những người lính sinh viên năm nào lại gặp nhau bên tượng đài sau chuyến đi thăm chiến trường xưa. Cuộc gặp gỡ thật cảm động và đầy chất nhân văn. Họ cùng nhau rải đều xung quanh tượng đài những nắm đất còn ấm hơi đồng đội mà họ vừa cùng nhau đem về từ Thành Cổ Quảng Trị anh hùng. Nhìn họ ôm nhau và nói chuyện rất vui, tôi chợt nghĩ, rồi mai đây nắng mưa và thời gian sẽ mang nắm đất thiêng ấy hòa chung vào mảnh đất nơi chúng ta đang đứng đây như một chứng nhân của lịch sử.
      Cuộc sống vẫn tiếp diễn và ngày càng tốt hơn như những đóa hoa vẫn hàng ngày nở thắm bên tượng  đài. Các chiến sỹ - sinh viên ngày ấy vẫn có một điểm hẹn tại nơi này. Họ cùng về bên tượng đài để ôn lại những kỹ niệm vui buồn của “Một thời hoa lửa”
       Bài của LÊ HẢI HƯNG. Cựu chiến binh, cán bộ giảng dạy Viện Vật lý Kỹ Thuật, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội (Tập san Đại học Bách Khoa Hà Nội số 117 – 118)

30 thg 5, 2012

Chào mừng Hà Thị Huệ

Đáng lẽ mấy lời này fải đăng từ hôm qua, song về quê lên mệt quá chỉ cố đăng được tin của Tân Văn Đoàn.
Kể từ hôm qua, blog k ta có thêm 1 tác giả mới, đó là bạn Hà Thị Huệ, cựu SV lớp MT69. (quá lâu mới có thêm được 1 người ?!). Xin nhiệt liệt chào mừng HT Huệ ! Mong nhận được sự đóng góp nhiều cho blog.

Nhớ mật Sấu Giá

Tớ cũng nhớ Mật Sấu Giá
Huệ và Côi đã chạm vào nỗi nhớ của nhiều người rồi đó và có thể làm thơ như Huệ thì không phải ai cũng làm được. Ngày sơ tán ở Sấu Giá bọn mình được ở nhà của một bác chuyên làm đậu phụ và nấu mật, Mật Sấu Giá sao mà ngon thế, chỉ vì ngon và đói mà tớ đã bị sứt môi khi ăn vụng mât đang nấu trên bếp đấy (điều bí mật này bây giờ mới kể). Nhớ mật quá nên chúng tớ đã về thăm lại Sấu Giá, đáng tiếc là không còn mật để mà ăn thật. Tớ gửi lên đây mấy cái ảnh khi chúng tớ về thăm Sấu Giá năm 1995 đúng vào dịp hội làng.
Đây là bác Phụng (chủ nhà của tớ) và con trai của bác ấy



29 thg 5, 2012

Nhớ

Gửi Các bạn K14 ĐHBK Hà nội bài thơ Huệ làm cách đây 13 năm:
(Kỉ niệm 20 năm ngày xa Hà Nội)

Tôi gửi cái nhớ
Về trường Bách khoa
Nhớ bếp số ba
Nhớ nhà ăn số bốn
Nhớ nhà B 5
Ghé thăm B 8
Nhớ hội trường 250
Tôi nhớ người rửa ảnh
Nhớ cảnh B 3
Tôi nhớ nhà 61
Nhớ giảng đường C 1
Tôi nhớ hội trường C 2
Nhớ cổng Bách khoa
Tôi nhớ nhà C 9
Ôi cái nhớ
                         Sao mà da diết nhớ
Tôi gửi cái nhớ
Vào từng tia nắng
Nắng đi lang thang
Nóng lên ngàn độ
Đốt cháy thời gian
Ngược về quá khứ
Để tôi đi thử  
Vào cõi mộng du
Về chốn sương mù
Bờ đê làng Vẽ
Tiếng ai thỏ thẻ
Bên vành tai tôi
Ngày ấy xa rồi
Bãi sông Thượng Cát
Cánh đồng bát ngát
Hà Bắc xa xôi
Con đò đâu rồi
Sông Cầu trong vắt
Tôi cắt nỗi nhớ
Chia ra làm hai
Một nửa gửi ai
Làm vành trăng khuyết
Nỗi nhớ da diết
Chảy dài mênh mông
Chìm vào kỉ niệm
Lắng đọng trong tim
Thành đêm thao thức
                                                                          SG    8/3/1999

Đường về nhà Tân Văn Đoàn

   Mấy hôm rồi, có việc về quê. Qua Hải Dương tỉnh, nhờ cô em họ đi tìm hộ thông tin về CCB Tân Văn Đoàn. Vào vietbando.com cũng tìm ra nơi chôn rau cắt rốn của Đoàn. Thế là cứ bản đồ mà đi bằng chiếc xe máy cà tàng, lần vào được UBND xã, hỏi thăm chẳng sai tẹo nào, (té ra đường từ TP Hải Dương đến nhà Đoàn chỉ tầm 8km), đến đúng được ngôi nhà nhỏ, nơi CCB Tân Văn Đoàn đươc sinh ra và cũng là nơi anh trút hơi thở cuối cùng, chấm hết 1 cuộc đời gian truân, vất vả nhưng cũng rất hào hùng. Chúng ta tự hào đã từng là đồng môn của anh. Người tiếp em tôi là chị Hoàng Thị Men, (55 tuổi), vợ của Đoàn. Lật tìm cả mấy đống giấy tờ, đủ các chủ đề (của 1 gia đình), thấy 1 "Bản trích ngang" có dấu của UBND xã Nam Tân. Bước đầu lọc tìm được như sau:
Tân Văn Đoàn thời SV lớp MT69

/1/  Họ và tên : TÂN VĂN ĐOÀN               

    ( ảnh sẽ gửi sau riêng ).
    Ảnh thời còn là SV K14:               
2/  Ngày, tháng, năm sinh :
    05/05/1951 (Âm lịch) tức ngày 8/6/1951 (Dương lịch)
3/  Nguyên quán : thôn Quảng Tân, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
     Trú quán : thôn Quảng Tân, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
4/ Nơi ở  hiện nay (của gia đình) : thôn Quảng Tân, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
    Số điện thoại cố định: 03203 573 055
5/ Nhập ngũ từ lớp Máy tính 69, K14 khoa Vô tuyến-Điện tử, trường ĐHBK HN. 
6/ Ngày nhập ngũ: 25/5/1972
7/ Đơn vị quân đội ngày đầu nhập ngũ:
-         Tháng 5/1972: B2, chiến sỹ D170, E276, Quân chủng Phòng không.
8/ Cấp bậc ? Chức vụ ? Đơn vị tác chiến? :
-         Tháng 12/1972: B1, chiến sỹ, D170, E276, Quân chủng Phòng không.
-         Tháng 5/1974:  B1, chiến sỹ, D170, E276, F361 Phòng không.
-         Tháng 11/1974:  học viên trường Sỹ quan phòng không.
-         Tháng 6/1976:  Chuẩn úy, trợ lý tác chiến (TLTC) D164, E276, F361, phòng không.
-         Tháng 5/1978: Thiếu úy, Đại đội phó C1, D170, E276, F361, phòng không.
-         Tháng 5/1981: Trung úy, E276, F361, phòng không.
9/ Chiến dịch ? Chiến trường? từ năm.... đến năm ?
10/ Thương, bệnh binh hạng ? Đoàn TNCS HCM .
      Ngày vào Đảng CSVN: 19/9/1973
       (Nơi cấp thẻ Đảng: Đảng bộ thành phố Hà Nội)
      Nhà nước phong tặng Huân chương Chiến sỹ vẻ vang, hạng 3, cấp ngày 2/3/1979 do Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký.
  Các huân, huy chương, danh hiệu: (chỉ giữ được cuống huân huy chương)
11/ Xuất ngũ từ đơn vị ? Năm ?
- Tháng 11/1981: xuất ngũ, về lại học tiếp K25, khoa Vô tuyến, trường ĐHBK HN
    - Tháng 5/1986: Nhận công tác tại Xí nghiệp liên hiệp vận tái Biển pha Sông.
12/ Nơi về làm việc: về lại học tiếp K25, khoa Vô tuyến, trường ĐHBK HN
13/ Đơn vị ? công việc và hiện nay :
    Bị bệnh nặng, đã mất ngày 01/5/ 2006.

(Người cấp tin: vợ CCB Tân Văn Đoàn là Hoàng Thị Men, sinh năm 1957, con trai: Tân Văn Việt, sinh năm 1980, điện thoại: 0987 187 852).