10 thg 7, 2012

Những bài thơ về Người Lính

Mình không biết làm thơ nên chỉ có thể đưa lên đây những bài thơ của mọi người mà mình đã được đọc, cảm nhận và yêu thích nó vì trong đó có một phần tình cảm của mình.
Những bài thơ về Người Lính nhân ngày 27/7 sắp đến

THÁNG BẨY NHỚ BẠN
Nguyễn Trọng Luân
(Kính tặng hương hồn lính sinh viên ở mặt trận Quảng Trị năm 1972

Đợi mãi bạn vẫn không trở về
Để cùng nhau dự ngày vui gặp mặt
Đồng đội ngày ấy giờ thưa thớt lắm
Hội trường đầy hoa mà nước mắt tuôn trào.
Mới đó, đã hơn ba mươi năm rồi sao!
Ngày từ biệt giảng đường chưa dám cầm tay con gái
Chôn bạn nơi cửa rừng, trong balô còn lại
Tấm ảnh nhỏ nhoi cô bạn gái cùng trường...
Vẫn còn đây những góc phố, con đường
Đêm chia tay, mặt trận đầy súng nổ
Cùng hát “Chiều Mátxcơva” trước khi vào Thành cổ
Khúc hát lặng rồi, vượt Thạch Hãn luồn sâu...
Bao người ngã xuống ngay sáng hôm sau
Những đứa bạn cùng trường chung ngày giỗ
Hoa phượng ơi, mùa hạ về cháy đỏ
Trẻ mãi lời ru nơi đồng đội tôi nằm...




ĐIỂM DANH ĐỒNG ĐỘI
Nguyễn Trung Kiên


Năm hàng dọc – những mộ bia đứng thẳng
Một hàng ngang – kia lau trắng cuối trời
Ba mươi năm! Nay điểm danh lần nữa
Những đứa – những thằng biền biệt xa quê!

Đâu hết rồi! Đời lính trẻ ngông nghênh
Ba lô cóc ôm cả hồn danh tướng
Da ngựa bọc thây – “nhân gian bất kiến…”
Tao nhớ tụi mầy như nhớ giai nhân!

Mãi mùa xanh – mãi hai mươi tuổi Trường Sơn
Thằng Hiển - Cần Thơ, thằng Hùng - Kinh Bắc
Cung đường ngày xưa bom rơi trụi lá
Bồi đắp máu xương nay đã xanh màu

Tao trở lại đây màu trắng trên đầu
Men rượu trắng mỗi năm mẹ khóc
Những đứa con gái trắng trinh như ngọc
Thiếu phụ buồn! Trắng song cửa chiều hôm

Đâu hết rồi! Những “mi – tớ – chi – mô”
Khi cất giọng cả ba miền góp mặt
Về đây uống cùng tao chung rượu nhạt!
Như ngày xưa chia sớt miếng rau rừng



Chiều Trường Sơn lộng gió đại ngàn
Hồn lính trẻ – đồng đội già khóc bạn
Thằng mất tuổi tên – đứa không còn xác!
Đất nước nầy hạt bụi hóa linh thiêng

Hàng dọc – hàng ngang, đồng đội điểm danh
Những nấm mồ xếp hàng ra trận
Nén nhang trắng khóc tụi mầy lần cuối
Mai gặp nhau rồi… cùng thét xung phong!


Rừng ơi!
Nguyễn Thị Hồng Ngát

Em đã hiểu rằng từ khi biết yêu anh
Cái cảm xúc ban đầu thật đẹp
Anh bộ đội có cái nhìn chân thật
Mọi gian truân không xoá nổi nét cưới

Khu rừng gai đêm ấy mưa rơi
Lá cây ướt mà đất rừng không ướt
Anh hái cho em trái me chua ngọt
Và nói về những chuyện mai sau…

Dòng suối trong rừng nước xanh bóng rêu
Bom rơi xuống làm chết bao nhiêu cá
Anh đã quen còn em thấy lạ
Tiếng ầm ì giữa tiếng xe- tiếng bom

Ơi nhưng khu rừng trên dãy Trường Sơn
Nơi tôi đến giữa những năm tuổi trẻ
Giữa những năm đạn bom khói lửa
Và đâu hay tôi có một mối tình…


 Một mối tình trong năm tháng chiến tranh
Giữa khốc liệt vẫn mang nhiều thơ mộng
Anh bộ đội áo sạm đen khói súng
Và cô văn công đứng hát trước bom thù

Những lúc yên bình đi dạo dưới rừng thu
Chợt quên tiếng bom chỉ còn nghe rừng hát
Rồi bỗng đâu bắt gặp trong ánh mắt
Trong muôn người bắt gặp một bàn tay

Suốt những năm dài cho đến hôm nay
Đã đi hết một đoạn đời tuổi trẻ
Vẫn giữ mãi cái nhìn chân thật quá
Và dư âm về những cách rừng già

Lúc vui buồn hay nhớ đến Rừng ơi!


 Lính mà em
 
Em trách anh sao gửi thư chậm thế,
Em đợi hoài sẽ giận cho xem.
Biên thư cho em bao giờ anh muốn thế,
Hành quân đường dài đấy chứ.
Lính mà em!

Anh gửi cho em mấy cành hoa dại,
Để làm quà, không về được em ơi,
Không dạo mát nửa đêm cùng em được,
Thôi đừng buồn em nhé.
Lính mà em!

Hẹn nghỉ phép, anh cùng em dạo phố,
Tay chiến binh đan đầu ngón tay mềm,
Em xót xa đời anh nhiều gian khổ,
Anh chỉ cười và nói:
Lính mà em!

Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm,
Trời mưa hai đứa đứng bên thềm,
Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím,
Anh quen rồi, không lạnh.
Lính mà em!

Anh kể chuyện hành quân và gối súng,
Trăng đêm đầu không đủ viết thư đâu,
Biên thư cho em nét nhòe như vụng.
Hiểu giùm anh, em nhé!
Lính mà em.

Ghét anh ghê, chỉ có tài biện luận,
Làm người ta thêm nhớ thương nhiều.
Em xa lánh những ngày vui trên phố,
Để nhớ người hay nói
“Lính mà em”.


Nếu kg được làm nhà thơ, kiếp sau tôi sẽ làm con chó!


Posted on Thứ sáu, ngày 06 tháng bảy năm 2012
Nguyễn Văn Thiện

Thật thế đấy, bởi vì làm thơ hơi bị sướng! Mà khỏi phải nói rồi, làm chó thì hơi bị… nhục, nhưng chó có cái hay của chó! Vì thế, tốt nhất là kiếp nào cũng xin làm thơ, nếu không được làm thơ thì mới xuống làm chó.

Làm thơ, tức là làm nhà thơ í. Mặc cho bọn rỗi hơi nào đó hò hét rằng biển Đông sắp về tay thằng bạn, mặc cho bọn hết việc nào đó đội mưa đội gió đi biểu tình, mặc cho bọn ngu si nào đó ca cẩm về kinh tế xuống dốc hay xuống vực… mặc xác, mặc xác, mặc xác… Nhà thơ tui ngồi nhà rung đùi mần thơ. A ha, máy tính của nhà thơ sẽ chạy vèo vèo, thơ đăng lên phấp phới, chả bị bố con thằng nào chặn tường lửa cả! Tường lửa chỉ dành cho bọn phản động truyền bá tư tưởng tầm phào, rỗi hơi mà chặn nhà thơ?!

Tui sẽ viết rằng, quê hương tui đẹp lắm, đẹp gấp vạn lần quê thằng khác…

Tui sẽ viết rằng, đất nước tui bình yên hạnh phúc lắm, gấp vạn gấp tỉ lần đất nước khác…

Tui viết tiếp rằng, nhân dân tui lam lũ một nắng hai sương mà hiền lành chất phác vô cùng, hơn hẳn nhân dân chỗ khác …

Tui cũng sẽ viết rằng, tui sống đây là nhờ ông nọ bà kia bú mớm nuôi dạy nên người chứ không phải như những đứa nhà thơ khác

Rồi tui nói luôn, đất nước này trưa hè gió quạt, mùa đông ấm áp, ra đường gặp ai cũng muốn ôm hôn, thấy mặt ai cũng nhân từ, không có bọn ma cô kẻ cướp, nghiện ngập đĩ điếm tuyệt đối không…

Nhân thể tui “trường ca” luôn, ơ hờ về biển đảo quê tui, rằng đảo nọ đảo kia liền một dải là khúc ruột thân thương, là không bao giờ mất… ơ hờ luôn về biên giới phía bắc phía nam nơi nào cũng vững vàng chắc chắn, và thế là nhân tiện tui bùi ngùi sa nước mắt...

Khi đã đủ một “độ dày sáng tạo” rồi tui sẽ tổ chức hội thảo rầm rộ, thuê và nhờ người viết bài nâng tui lên thành hàng thi tiên thi thánh, rồi Lí Bạch rồi Đỗ Phủ rồi Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến gặp tui sẽ phải cúi đầu sa lệ vì tài thấp phận cao…

Dĩ nhiên đứa nào dám mở miệng chê thơ tui thì tui sẽ chửi và thuê thêm vài thằng thợ chửi nó chửi lại, biết đứa nào chửi to hơn mà nói?

Bạn đọc thấy mần thơ như tui sướng không? Sang trọng không? Hoành tráng không?

Tất nhiên, tui sẽ an nhàn sung sướng tận hưởng hết kiếp này, số kiếp của một nhà thơ. Còn nếu kiếp sau không được làm thơ nữa thì dứt khoát tui sẽ làm chó, một con chó tự do không bị rõ mõm, và tui sẽ sủa, đúng như tui làm thơ kiếp này…
Nhiệt liệt…
Nhiệt liệt…

Nguyễn Văn Thiện

Chân lý quý hơn thầy


Posted on Thứ hai, ngày 09 tháng bảy năm 2012

…………. Xem tấm hình này... tôi buồn mất một tuần có lẻ ! Vì tấm hình nói lên quá nhiều điều. Nó đưa người ta suy ngẫm về phương Đông và phương Tây, về triết học và văn hóa của hai phương trời. Từ trước Công nguyên, Aristote (384-322 trước CN) đã tuyên bố: Platon là thầy tôi, nhưng chân lý quý hơn thầy ! Engel rất hâm mộ Aristote và luôn dẫn câu nói nổi tiếng này của Aristote trong các bài viết của mình.

Từ trước Công nguyên, chân lý khách quan khoa học luôn là thước đo của mọi giá trị trong xã hội phương Tây. Vì thế, phương Tây văn minh. Xã hội phương Đông từ trước Công nguyên, triết lý Khổng Mạnh chỉ đề cao đạo lý vua tôi, cha con, chồng vợ... Kẻ sĩ trí thức phương Đông đến cửa Khổng sân Trình  chỉ để mong thi đỗ làm quan, để được quỳ lạy trước sân Rồng ! Văn hóa phương Đông từ thời Khổng Mạnh đến nay là thứ văn hóa quỳ lạy. Thấy kẻ trên là... quỳ lạy, không cần biết kẻ đó có đồng nghĩa với lẽ phải, với chân lý hay không (!) Kẻ đó nói những câu vô hồn, vô bổ như "khách quan", "biện chứng"... hay gì gì đi nữa, nhưng là quyền lực thì cứ thế mà cung kính, mà ngưỡng mộ !

Cái hình ảnh đau khổ mà tôi vừa kể ở trên nói lên cả một nền văn hóa quỳ lạy của phương Đông.

Có lần, tướng Lưu Á Châu ở Trung Quốc có kể lại rằng, khi ông là một sĩ quan, dự một lớp học, thấy thầy giảng chướng tai quá, ông đứng lên cãi lại, thầy liền mắng rằng: Sao anh dám cãi lại tôi. Tướng Lưu Á Châu bình luận rằng, chỉ câu nói ấy của thầy đã nói lên tất cả! Sao thầy không mắng : - Sao anh dám nói như thế ! Có nghĩa là thầy không mắng, không dám tranh luận về nội dung lời cãi của tướng Châu, mà chỉ biết là không được cãi thầy. Cái văn hóa dưới không được cãi trên ấy, còn tồn tại ở Trung Quốc và Việt Nam cho đến tận hôm nay, như một chân lý bất di bất dịch ! Vì thế tướng Châu đã buồn rầu và đi đến kết luận: Trung Quốc không có nhà tư tưởng, chỉ có các nhà mưu lược mà thôi !

Người phương Tây có câu ngạn ngữ rằng: Cái gì có lý thì nó tồn tại, cái gì tồn tại thì nó có lý (tout ce qui est rationnel, est reel...).

Cái lý tồn tại của chính thể độc tài là vì còn "lưu hành" thứ văn hóa quỳ lạy, mà những người nhiễm phải nền văn hóa này còn không ít trong xã hội phương Đông.

Hình ảnh thảm thương của các ông già cử tri khi tiếp xúc với đại biểu Quốc hội nói lên điều đó. Nó có cội rễ từ Khổng Tử. Tôi nghĩ như vậy. Thật là buồn !

Lê Phú Khải - 7-2012


9 thg 7, 2012

Siêu võ này

Thời buổi trắng trắng đen đen mà biết tý võ vẽ thì kể ra cũng có ích lắm chứ. Nhưng coi võ như Video sau đây kg khỏi rợn tóc gáy. (Cảnh báo: bạn nào yếu tim đừng vô).



Có cô giáo miền xuôi lên vùng cao dạy học


Đang chủ đề Giáo dục xin đăng bài thơ trên blog của ông bạn cấp III - vantheblog:


Gặp bài thơ này, tôi đăng lại để các Bạn hiểu thêm những nẻo đường Nghề Giáo chúng tôi.

Có cô giáo miền xuôi lên vùng cao dạy học

 
Tuổi thanh xuân
chôn giữa chốn rừng già.
Tuổi hăm vùn vụt trôi qua
Tuổi băm ào ào ập tới
Không có tiền thưa gửi
làm sao được chuyển vùng.
   
Bỗng một hôm,
Trưởng phòng gọi cô giáo đến.
Thấy bụng cô giáo lùm lùm.
Ái chà chà gay thật!
Hội đồng họp liên tục.
Phải kỷ luật, kỷ luật!
Kẻ giáo ít, dục nhiều!
 
Cô giáo bước liêu xiêu
Nước mắt nhòe nước mắt.
*
Có chàng trai chân đất
Người con của núi rừng
Lưng cài con dao sắc
Đến trước mặt Trưởng phòng.
Cái mày nghe tao hỏi
Giết người có tội không?

Trưởng phòng cười ung dung
Giết người là trọng tội.
 
Giết người là trọng tội
Vậy làm ra người thì sao?
*
Cái lý người Mèo tao
Hẳn cái mày phải biết
Cô giáo thích đứa con
Lẽ nào tao lại tiếc,
Con gấu trong rừng
không cho cô giáo được,
Không tham ô Nhà nước
Chẳng ăn cắp của ai
Tao rút từ trong người
Tao tặng cho cô giáo.
*
Trưởng phòng cười mếu máo
Cúi đầu chắp hai tay
Bụng thằng Mèo nói phải
Tao làm theo cái mày.
(blog bình địa mộc)

Còn bó hoa này xin tặng các cô giáo vùng cao:



8 thg 7, 2012

Ngang trái

Trẻ con: Để thoát nghèo, thoát khỏi vùng quê 'vừa nắng đã hạn, vừa mưa đã ngập' quyết đạp xe 300km với 30 ngàn đồng ra thi đại học.
Hỡi các quan đã và đang 'bốc' có thấu cảnh này ! (ngày bé tớ cũng từng thế này)

Người lớn thì:

Chia verbe (động từ) nói dối
Thơ Lê Phú Khải
Posted on Thứ ba, ngày 03 tháng bảy năm 2012

Tôi nói dối
Anh nói dôí
Nó nói dôi                                             

Chúng tôi nói dối
Các anh nói dối
Chúng nó nói dối
Một dân tộc 4.000 năm chân thật
Bỗng trở thành nói dối nhất hành tinh
Vua Hùng ơi sao khốn nạn nước mình?
Chỉ có ít người nói thật
Nếu dối trá đã trở thành quốc sách

Sao quốc kỳ không in hình chú Cuội?
Quốc ca không hát điệu Lý Thông?
Sao lại giỗ bố thằng hàng xóm (Max Lê nin)
Không giỗ cha mình Lê Lợi - Quang Trung....
Sẽ có ngày sự thật sẽ nổ tung
Đưa ta về nơi ta hằng mơ ước
Nước Việt Nam chân thật của vua Hùng
Có mái đình cong cong
Có câu ca dao chồng cầy vợ cấy !!...
Không có" đỉnh cao" " định hướng" siêu lừa!
Thằng Cuội vẫn ngồi ở gốc cây đa.....
                                  
                                            L.P.K.
                                   Sài gòn 7/2012

7 thg 7, 2012

Đạp xe 300km từ Nghệ An ra Hà Nội thi đại học


Nguồn: Kiến thức. 07/07/2012 12:50:47
Với một chai nước và vài chiếc bánh mỳ không, cậu học sinh nghèo Nguyễn Văn Thuận (Yên Thành, Nghệ An) đạp xe 300 km ra Hà Nội để thi đại học.

Sáng 3/7, trên Quốc lộ 1A (đoạn thuộc thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội) có một cậu thanh niên đi xe đạp, mặt tái đi vì mệt mỏi vào xin nước uống và ngồi nghỉ nhờ ở nhà dân ven đường. “Sắp đến nơi rồi, cố lên!”, Thuận tự nhủ.

Xét ở tiêu chí về thể lực, có lẽ Nguyễn Văn Thuận hoàn toàn có thể được tuyển thẳng vào trường Sỹ quan Lục quân I (nơi em đăng ký dự thi). Xuất phát ở quê (huyện Yên Thành, Nghệ An) từ 1h trưa, đến 9h30 sáng hôm sau Thuận đã đến huyện Thanh Trì, Hà Nội.

 Nguyễn Văn Thuận xem lại bài sau khi thi xong môn hóa - môn cuối cùng
Nguyễn Văn Thuận xem lại bài sau khi thi xong môn hóa - môn cuối cùng.

300km đạp xe với chỉ một chai nước và vài cái bánh mỳ không. Lúc mệt thì dắt, đỡ mệt lại đạp. 30.000 đồng tiền dành dụm khi mang đi, đến Hà Nội vẫn còn tận… 10.000 đồng cho 2 ngày rưỡi ăn ở và lượt đi về.

Trên đường đi, Thuận còn vạch sẵn một kế hoạch “tác chiến” rất cụ thể về nơi ăn, chốn ở khi đi thi tại Hà Nội. Rất đơn giản, ăn vẫn là bánh mỳ không, nước lọc uống hết thì xin, ở thì nếu có đình chùa nào gần điểm thi thì xin ngủ nhờ, không có thì ngay cổng trường thi, dưới cột đèn cao áp cũng là tốt lắm rồi.

Thế nhưng “kế hoạch” đó đã không thành. “Sáng hôm đó, khi xuống địa bàn, gặp trường hợp của Thuận, biết hoàn cảnh và cuộc ’hành quân dã chiến’ của em, tôi quyết định sẽ giúp đỡ ngay để Thuận có thể đến địa điểm thi tận huyện Thạch Thất cho kịp giờ”, Đại uý Nguyễn Quốc Khánh, Công an phụ trách xã Liên Ninh (CAH Thanh Trì) cho biết.

Được sự giúp đỡ tận tình của bà con và đặc biệt là ông Trần Trọng Dực, Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội là một người dân xã Liên Ninh, nên hai đêm qua Thuận được ăn nghỉ trong phòng trọ đàng hoàng. Chắc chắn đó là những giấc ngủ mà Thuận không thể nào quên.

“Em quá may mắn khi gặp được bác Dực, chú Khánh, và cả những người mà em còn chưa biết tên trên đường em ra thi. Không có các bác, các cô, các chú cũng chẳng biết em còn sức mà làm bài nữa không”, Thuận cảm động khi nhớ lại những vất vả đã qua.

Muốn đi thật xa trên đường đời

“Quê em là vùng đất mà cứ nắng thì hạn, mưa lại ngập. Gia đình thuần nông, dưới em còn một em trai 8 tuổi nữa, cũng hoàn cảnh anh ạ. Bố mẹ không muốn em đi thi đại học vì nếu đỗ biết lấy đâu tiền mà học” - Thuận khẽ nói. Ấy vậy mà Thuận vẫn quyết phải thi đại học bằng được. Được sự động viên của thầy cô giáo, tự tin vào lực học của mình Thuận chọn trường Sỹ quan Lục quân I, vì nếu đỗ bố mẹ sẽ không phải lo học phí.

“Nếu không đỗ, em ở quê kiếm việc gì làm phụ bố mẹ, vừa làm vừa ôn, năm sau nhất định phải thi tiếp vì chỉ có học em mới đi được thật xa trên đường đời” - Thuận nói, mặt rắn rỏi. Chắc chỉ có quyết tâm sắt đá ấy mới giúp cậu học sinh có vóc người nhỏ nhắn, hiền khô này đạp xe cả quãng đường dài đến thế.

Sau khi kết thúc môn thi cuối cùng, Thuận vui vì làm bài tốt rồi lại vội vã trở về ngay. Có khác là lần này em về bằng ô tô. Đích thân Đại uý Nguyễn Quốc Khánh đưa em ra tận bến xe. Thuận run run tâm sự rằng cuộc sống còn rất nhiều khó khăn nhưng em sẽ nỗ lực để vượt qua tất cả bởi bên cạnh em luôn có sự thương yêu của gia đình, thầy cô, bạn bè, và em sẽ không đầu hàng trước những khó khăn nào để xứng đáng với tấm lòng của những người đã giúp đỡ em hết mình trên hành trình khó khăn đầu đời.

Tiết Thu


                                       honngv
Sớm nay ngủ dậy thấy Tiết Thu *                                    
Mùa Thu bên Hồ Tây
Trời xanh, mây trắng, gió vi vu
Thả hồn lơ đễnh theo mộng ước
Ơn Trời cho hưởng Tiết Thiên Thu!

Đạp xe túc tắc đến Cổ Ngư
Ngồi ngắm mặt Hồ, hưởng gió Thu
Ngoái lại: dòng người lao tất bật
Có biết Trời nay đã sang Thu (?!).
-----------------
Tiết Lập Thu năm nay vào ngày 7/8 (tức 20/6 AL).


Thu của nghìn năm
 Bee.net.vn - 26/09/2010 08:55:17

Hà Nội đang thứ Bảy và mưa vẫn đang tí tách rơi đều trên các con phố. Những ánh đèn xe loáng nước lao vút vào lòng đêm lung linh những chùm đèn màu…

Hà Nội vừa qua những ngày nắng đổ mồ hôi, tưởng mùa thu đã quên lối về thì bỗng dưng mưa rơi ào ạt. Cơn mưa vui tươi, khỏe khoắn chứ không phải là mưa của nỗi niềm cô liêu, hiu hắt với người lữ thứ Đặng Thế Phong dù “Giọt mưa thu” của ông là một trong những ca khúc hay nhất tân nhạc Việt Nam. Mưa hát trên những tán bàng còn sót lại bên những khối nhà bê tông, kiên nhẫn rửa sạch những ô cửa lấm láp, thổi hơi mát lạnh vào lòng người vốn đang chen chúc với kẹt xe, khói bụi, cắm cúi với trăm nỗi lo toan thị thành.
………

Hồ Tây chiều thu. Ảnh Bee

Hồ Tây chiều thu. Ảnh Bee

Khi tôi kết thúc những dòng này, mưa vẫn tí tách rơi ngoài cửa sổ. Hà Nội đích thực Thu rồi. Một mùa Thu mà tôi tin chắc rằng đang đi vào giấc mơ của rất nhiều người với nụ cười vô thức trên môi.

Đây  GIỌT MƯA THU, FLV, Nhạc Sĩ: Đặng Thế Phong, Ca Sĩ: Ngọc Hạ - 128kb


Còn đây Giọt Mưa Thu, MP3, ca sĩ Hương Lan trình bày thuộc thể loại Tiền Chiến - chất lượng 320kb:


Liệt sỹ Nguyễn Tư Thảo

Liệt sỹ Nguyễn Tư Thảo

Sắp tới ngày 27-7, KC gửi đến  các bạn thông tin về bạn Nguyễn Tư Thảo. Ảnh và thông tin về Thảo được em trai của Thảo là Nguyễn Nam Hòa gửi Email cho KC. Mời các bạn hãy đọc để cùng nhớ về một người bạn rất thông minh, nghịch ngợm, bướng bỉnh và cũng rất chân thật với bàn bè.


Liệt sỹ
NGUYỄN TƯ THẢO

Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1951
Nguyên quán: Xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Trú quán: Tập thể ĐHBK Hà Nội
Chỗ ở hiện tại của gia đình: (Nơi đang thờ Bố Mẹ liệt sỹ) Số nhà 35, ngõ 186 đường Thái Bình, phường Trần Tế Xương, TP. Nam Định, tỉnh Nam Định.
Sinh viên lớp Bán dẫn 69, khóa 14, khoa Vô tuyến điện, ĐHBK Hà Nội.
Ngập ngũ: 06/9/1971 vào đơn vị c4/d8/e95/f325
Đơn vị chiến đấu: b2/c1/d1/e201b Binh chủng Tăng - Thiết giáp
Hy sinh ngày 01/02/1973 tại mặt trận Km 35 đường 22A, tỉnh Xavanakhet, CHDCND Lào khi đó mới 22 tuổi. Anh hy sinh trong một trận đánh ác liệt có tính chất hủy diệt của không quân Mỹ, đầu tiên chúng dùng bom phát quang đánh trụi cây rừng khu vực hành quân, sau đó chúng đánh bom cháy để đốt hết ô xy trên trận địa buộc các chiến sỹ phải ra khỏi xe tăng và cuối cùng là bom bi để sát thương bộ đội ta. Anh Thảo là trưởng xe tăng T54B, khi buộc phải rời khỏi xe tăng là người ra sau cùng và bị thương dập nát tay trái, chân trái. Anh đã gục trên cửa xe tăng, sau 5 tiếng đồng hồ, khi ngớt bom đồng đội quay lại thì Anh đã hy sinh.
Cấp bậc, chức vụ khi hy sinh: Hạ sỹ, Trưởng xe T54B số 706.
Anh được tặng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng 3 là Đảng viên ĐCSVN.
Nơi an táng Liệt sỹ: Đã được quy tập về Nghĩa trang LS Trường Sơn, nhưng trong số các Liệt sỹ “chưa biết tên”.
Thân nhân Liệt sỹ:
Bố: Nguyễn Hoành Cừ – Lão thành cách mạng – Mất năm 2011 thọ 92 tuổi
Mẹ: Nguyễn Thị Dịu – Mất năm 2009 thọ 89 tuổi.
Địa chỉ Liên lạc: Em trai: Nguyễn Nam Hòa  Nhà riêng: Số 9 ngõ 104, phố Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân, Hà Nội; Email: Nguyen5hoa@yahoo.com.vn; ĐT: 0166 8081 806.


Phỏng theo Nguyễn Bính

Phỏng theo thơ Cụ Nguyễn Bính

CẢM TÁC

Thơ suông rượu nhạt quán cơm nghèo
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều
Chín hẹn đã sai mười bạn quý
Nghìn voi không được một nước xào!

Bá Nha thuở trước còn Chung Tử
Kim Trọng đời nay hết Thuý Kiều
Võ tía tán vàng đi nườm nượp
Giũ tà áo vải bụi bay theo!


NHỚ MÙA THU HÀ NỘI

Hà Nội cơ hồ loạn tiếng tu
Bụi bay che lấp cả trời Thu…
Năm xưa một buổi Thu như thế
Cho thuyền cập bến tiết sang Thu! 

Hà Nội mùa Thu tràn Nỗi nhớ

Ngày Thương binh Liệt sỹ

Nhân ngày TBLS 27/7 sắp đến, xin đăng bài thơ của anh Trần Quang Ngân thay nén hương tri ân các anh hùng liệt sỹ:
Nghĩa trang Thành cổ Quảng Trị


Về thành cổ

Sớm thu trở lại đất Cổ Thành
Cỏ non ngày ấy đã lên xanh
Tiếng chuông vang mãi miền đất lửa
Thắp nén hương thơm viếng các ANH

Chiều thu ngồi tại đất Cổ Thành
Làm lễ cầu siêu cho các ANH
Bốn mươi năm ấy, còn đâu nữa*
Ra đi mái tóc vẫn còn xanh.

Tối thu, bến vượt đất Cổ Thành
Dòng người nhè nhẹ bước đưa nhanh
Bến sông Thạch Hãn, ngày xưa đó
Thả đèn hoa lửa, đỏ dòng xanh.

Sớm mai tạm biệt đất Cổ Thành
Mỗi người mỗi ngả xa các ANH
Tay nắm trong tay, lòng bịn rịn
Hẹn lại thu sau đất Cổ Thành.

               Quảng Trị, ngày 3 và 4/9/2011

­­­­­­­­­­­­­­--- --------------------------- --------
(*) Nhân kỷ niệm 40 năm, sinh viên các trường Đại học nhập  ngũ ngày (6/9/1971- 6/9/2011) đến thắp hương tri ân, làm lễ cầu siêu tại Thành Cổ Quảng Trị và thả đèn hoa trên sông Thạch Hãn.

Bên kia sông Thạch Hãn


6 thg 7, 2012

Những dòng nước mắt về đâu?


honngv: Sắp đến ngày 27/7 lại nghĩ: Thử hỏi có Dân tộc nào trên Trái đất này trả giá cho sự Thống nhất đất nước như dân tộc Việt này kg ?!
Đi dọc Trường Sơn bạn sẽ rùng mình với muôn loại Nghĩa trang! Nhiều có, ít có, bao la mênh mông có!
Sau 30 năm chiến tranh ác liệt, hy sinh bao triệu nam thanh nữ tú, tận ngày sắp thống nhất mới biết bị Tàu khựa lừa: 'đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng'!
Trăm ngàn vạn ước mơ nằm...
Giờ thì nó sắp mò vào đến tận cửa nhà mình mà nó vẫn vừa ăn cướp vừa la làng.
Mượn bài thơ "NHỮNG DÒNG NƯỚC MẮT VỀ ĐÂU?" của Văn Công Hùng đặng gởi đến "trăm ngàn vạn ước mơ nằm / những ngôi sao đỏ cháy thầm bên nhau" những giọt nước mắt tiếc thương muộn mằn!

NHỮNG DÒNG NƯỚC MẮT VỀ ĐÂU?

Người đương bằn bặt sim mua / người lên mạn bắc bỏ bùa phương nam / trăm ngàn vạn ước mơ nằm / những ngôi sao đỏ cháy thầm bên nhau !

                   tường vi thì mỏng vào chiều
                   em khêu nỗi nhớ theo liêu xiêu gầy
                   đã vắt đến kiệt bàn tay
                   đã mưa mưa đến tận ngày nước rong
                   đã từng khóc đỏ cơn mong
                   đã thôi ngọn nến cháy trong đốt ngoài

                   người thì đã tận mù khơi
                   đã tan xác pháo đã chơi vơi mùa
                   người đương bằn bặt sim mua
                   người lên mạn bắc bỏ bùa phương nam
                   trăm ngàn vạn ước mơ nằm
                   những ngôi sao đỏ cháy thầm bên nhau

                   những dòng nước mắt về đâu
                   về đâu những mối tình đầu vu vơ
                   bây giờ nắng lạnh gió hờ
                   những người lính trẻ nằm chờ trăng lên...

                                                          Pleiku 23/9/2008

Nhớ tiếc Hoàng Ngọc Hiến


Nguyễn Huy Thiệp đọc văn tế GS Hoàng Ngọc Hiến

Posted on Thứ sáu, ngày 06 tháng bảy năm 2012 by Bà Đầm xòe
TNc: Tại cuộc hội thảo Hoàng Ngọc Hiến - bậc trí giả lương thiện tối 4-7-2012, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã phát biểu ý kiến bằng bài văn tế GS Hoàng Ngọc Hiến. Phóng viên bản web ghi lại bằng máy ảnh nên chất lượng chưa như ý, mong bạn đọc thông cảm. Chúng tôi đăng kèm văn bản bài văn tế đó dưới đây:

NHỚ TIẾC HOÀNG NGỌC HIẾN
(Phú gửi bạn văn)

Nhớ thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Tiếc thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Bậc trí giả lương thiện,
Một người xưa nay hiếm!


Nhớ ông xưa:
Sinh ở chốn Lam Hồng,

-“Quê choa gì cũng biết,
Riêng hạnh phúc lại không!”
Thật đúng lời người biết!

*
Đi du học ở Nga,
Ngậm ngùi lòng xót xa:
-“Đàn bò qua biên giới,
Thành tiến sỹ được a?”
Đúng là lời người hiệt!
*
Thời “hiện thực phải đạo”,
Thời “bước qua lời nguyền”,
Thời “loanh quanh minh triết”,
Vẫn giữ vẹn phẩm tiết!
*
-“Cái nước mình nó thế!”
Phảng phất nụ cười xòa…
Cười xong thì rơi lệ,
Lòng người đau xót xa!
*
Nhớ thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Tiếc thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Bậc trí giả lương thiện,
Một người xưa nay hiếm!

Tiếc ông xưa:
Về dựng trường Nguyễn Du,

Hoang đường và ngây thơ!
Chuyện “Ngu công dời núi”,
Học Đạo mà như đùa!
*
Than ôi, công ông lớn,
Bao học trò thành danh!
Tên tuổi trùm thiên hạ,
Đều từ đây mà thành:
*
Bọn Đăng Khoa, Hữu Thỉnh,
Đám Trọng Tạo, Bảo Ninh…
Lũ Y Ban, Trung Đỉnh,
Đến Mỹ Dạ, Văn Chinh…
Công nông binh đủ cả,
Hốt nhiên tự dưng thành!
*
Than ôi đức ông lớn,
Sống chẳng màng hư danh!
Chết được phong Sư tử 
Hỏi ông có giật mình?
*
Nhớ thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Tiếc thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Bậc trí giả lương thiện,
Một người xưa nay hiếm!
*
Nhớ ông xưa:
Hồi nào đến gặp ông,

Ông không chúc thuận buồm,
Cũng chẳng chúc xuôi gió,
Nước mắt hòa chén cơm,
Cứ giận ông chúc xỏ!
*
Hai nhăm năm rồi đó,
Câu chúc mãi theo tôi…
Chợt hiểu ở nước mình:
-“Nhà văn khổ như chó!”
*
Nhớ thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Tiếc thay, Hoàng Ngọc Hiến!
Bậc trí giả lương thiện,
Một người xưa nay hiếm!

Than ôi,
Thượng hưởng!

Hãy cứu lấy trẻ con!

Hãy cứu lấy tiếng Việt!
Hãy cứu lấy nước mình!

- Học ông Hoàng Ngọc Hiến!
                                  NHT

TNc cám ơn nhà văn Vũ Xuân Tửu từ xứ Tuyên đã gửi văn bản bài văn tế này cho bản web.


(Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011), là nhà lý luận phê bình, và là dịch giả văn học Việt Nam đương đại, nguyên hiệu trưởng Trưởng viết văn Nguyễn Du.

   Hoàng Ngọc Hiến sinh ngày 21 tháng 7 năm 1930 tại Nam Định, quê quán: Làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau năm 1945, ông cùng gia đình đi tản cư, học Trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng ở Vinh và được gửi đi đào tạo ở Liên Xô (cũ).
   Năm 1959, ông làm nghiên cứu sinh và bảo vệ thành công Tiến sĩ Văn học chuyên ngành lý luận, phê bình tại Đại học Tổng hợp Moskva, Liên Xô (cũ) với luận án về nhà thơ Liên Xô Vladimir Vladimirovich Mayakovsky
   Về nước, ông lần lượt giảng dạy ở các trường Đại học Sư phạm Vinh, Đại học Văn hóa, Trường Viết văn Nguyễn Du (và ông đã nhiều năm làm hiệu trưởng ngôi trường này).
   Từ năm 1983, ông đã nhiệt thành cổ súy cho sự đổi mới sáng tác văn học ở Việt Nam, phê phán những bất cập trong hệ thống lý luận quan của Zdanov.
   Ông là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1987, và là là đồng chủ bút với Huỳnh Sanh Thông, Trương Vũ ra tạp chí Vietnam Review (phát hành ở Mỹ trong 2 năm 1996 và 1997).
   Ông có các học trò là nhà văn, nhà thơ đã thành danh như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Trọng Tạo...
   Hoàng Ngọc Hiến mất vì bệnh lúc 23 giờ ngày 24 tháng 1 năm 2011 tại Bệnh viện Hữu nghị, Hà Nội).