14 thg 1, 2013

Mỵ Châu ơi... Mỵ Châu!



hoaitohanh [Blogger] - Tha về từ trang Xuân Đức
MỴ CHÂU ƠI.. MỴ CHÂU!
Tác giả: Lão Trang (nhà văn Xuân Đức)

Mỵ Châu ơi, nếu nàng còn sống
Không chừng lại bị lừa lần nữa.

Những chùm quýt, chùm cam
Da bóng nhẩy, vàng ong bắt mắt
Những quả dưa hấu căng tròn, lì da, mọng mật
Những cọng rau uốn cong nõn nà
Cả những mớ thuốc bắc thơm nức nhà..
Tất thảy đều trộn thuốc độc.

Những lời nói chót đỏ đầu môi, bạn vàng, tình ngọc
Những cái ôm nhau xoa xoa tấm lưng nhão thịt
Tất thảy là gọng kìm đang xiết.

Mỵ Châu ơi, thế là hết!
Trên rừng người lạ thuê đất giăng cây
Dưới vịnh người lạ âm thầm đơm đó
Miền Tây người lạ lập làng định cư
Biển đông tàu lạ hiên ngang gầm rú..
Trong lòng đất nước..người lạ lập mưu chia rẽ.

Mỵ Châu ơi, Mỵ Châu!
Nghìn năm trước
Nỗi đau trái tim yêu lỡ đặt nhầm chỗ
Nghìn năm sau dẫu ai cũng biết nhầm những vẫn cứ đặt nơi đó..
Ai cũng biết vi rút gia cẩm cũng từ bên Trọng Thủy
Sao cứ ham tha về?
Sẽ đến ngày vịt gà chết sạch
Làm gì còn lông ngỗng, lông ngan
Để rải đủ trên dặm dài lầm lạc?

Những ngày rất buồn ở TST.

Biên giới tháng 2/1979

Nghĩa trang Vị Xuyên (Hà Giang) nơi có hơn 1.700 ngôi mộ liệt sĩ hy sinh trong giai đoạn 1980-199  hoang vắng, quạnh quẽ.

Biên giới đã đứng lên diệt thù thay Tổ quốc
Nơi cao điểm nhất, ngày cao điểm nhất, giờ cao điểm nhất
Ôi, những rừng không tuổi, suối không tên
Thơ chửa từng ghi, sử có khi quên
Nay một phút máu anh hùng đỏ rực
Trên nghìn non cao ấy có xương thịt con em ta trên mỗi chốt.
Mỗi ngọn cỏ, nhành cây, muôn thuở hóa thiêng liêng
Họ dâng tất cả cho Tổ quốc mà, đâu có để gì riêng?
Nghìn năm sau nhìn về đây xin hãy rất trang nghiêm
Giữ sông núi là giữ bằng máu xương ta từng tấc đất
Chế Lan Viên

Nghe Nhật tập trận mà thèm

Tối nay trên VTV1 đưa tin Nhật vừa tiến hành tập trận (có cả kg quân) với giả định quân địch lấn chiếm đảo mà "thèm"! Họ nói thẳng là để đối fó với Trung Quốc chứ chẳng úp mở gì xung quanh chuỗi đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.
- http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2013/01/nhat-tap-tran-phong-ve-dao/   
- Xem ảnh tại đây 

Ảnh: AFP

Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản hôm qua tham gia cuộc tập trận quân sự năm mới tại khu huấn luyện Narashino, ngoại ô thủ đô Tokyo. Ảnh: AFP

13 thg 1, 2013

Bao giờ cho đến thời xưa



Bao giờ cho đến thời xưa

Dù cho gan sắt dạ đồng
Nếu không có được bằng lòng người dân
Thì dù có phạt mười phân
Cũng không đứng vững thế cân vững bền
Nghị định thay đổi bao phen
Cũng không hoàn thiện vì quên nhân hòa
Sửa  sao cũng vẫn nhạt nhòa
Chỉ bằng nghiêm túc mới là chỉnh chu
Ngày xưa đâu có “nhảy dù”
Bây giờ quan chạy gật gù ất ơ
Cho nên văn bản lơ mơ
Ban ra không hợp vẩn vơ vô cùng
Hợp pháp, hợp lý cũng không
Hợp tình càng khó trông mong lòng người
Nếu tham nhũng chưa đẩy lùi
Thì tình trạng đó còn phơi bày nhiều
Thì dân còn phải xiêu điêu
Tồn vong chế độ là điều đáng lo

3.2012
HT
Đọc xong bài của Châu kể lại những trận đánh tại vùng biên phía Bắc mà mình càng thêm đau xót và thương tâm cho các chiến sỹ của ta nói chung và các bạn K14 mình nói riêng. Không ngờ các bạn lại phải nếm mùi chiến tranh giữa thời hòa bình và do vậy tôi nhớ lại lời của cựu TBT họ Lê đã nói hồi vừa giải phóng MN tại tỉnh Hà Nam Ninh là đất nước ta từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân thù, đất nước ta mãi mãi được hòa bình, nhà nhà sẽ có TV, tủ lạnh...
 Tôi vô cùng cảm phục Châu và các bạn đã có những ngày chiến đấu dũng cảm vì dân tộc và đất nước thân yêu. Chỉ tiếc rằng thời nay các quan tham nhũng không hề đếm xỉa và thậm chí không hay biết gì những hy sinh xương máu và tính mạng của hàng triệu người đã ngả xuống với sự mong mỏi sẽ giành lại hạnh phúc cho nhân dân, thế mà nhân dân lại không được hưởng....,
Từ bấy đến nay đã trải qua bao nhiêu nhiệm kỳ đại hội và bấy nhiêu nhiệm kỳ TBT rồi mà rất tiếc là  nền dân chủ, công bằng, văn minh ở VN vẫn chưa được hé lộ! Thật đáng buồn.
Thật đúng như Bác Hồ đã nói trước khi từ trần: "Giặc ngoại xâm ta không sợ vì giặc ngoại xâm rất dễ đánh, còn giặc nội xâm mới đáng sợ vì rất khó diệt"

Chúc Châu và các bạn sức khỏe và HP, xin chân thành cám ơn
HT
Chào các bạn,
Đợt vừa rồi HT bị đau thần kinh thời gian dài phải đi điều trị gần tháng, ở nhà thì PC bị sự cố nên không LL với nhau đc, Hôm kia nhờ 1 vị cq cũ ra nhà g/q, nay PC chạy tốt và HT cũng OK.
 HT rất mong nhận được bài viết của các bạn trên mọi miền TG

9 thg 1, 2013

Một hồi ức của CCB Đặng Việt Châu



MỘT VÀI HỒI ỨC CỦA ĐẶNG VIỆT CHÂU, CCB SƯ 356 KỂ TRẬN ĐÁNH CAO ĐIỂM 772 NGÀY 12/7/1984 QUÂN TA HY SINH HƠN 1000 BỘ ĐỘI


Ai đã quên! Nhưng tôi không quên và không thể nào quên…

Cuộc chiến Hà Giang đã qua gần 30 năm rồi. Sư đoàn 356 đã giải thể hơn 22 năm, mỗi người mỗi ngả... còn lại trên mảnh đất Hà Giang 1 nghĩa trang liệt sĩ tại xã Đạo Đức, Vị Xuyên, Hà Giang. Một nghĩa trang mà phần đông là các liệt sĩ sư đoàn 356.(Bởi sự ác liệt của cuộc chiến nên số không có tên cũng không phải là ít)
Người còn sống trở về với cuộc mưu sinh cũng chẳng dễ dàng gì...Di chứng của tháng ngày gian khổ ...
Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang sau 12/7/1984 thì thời điểm ác liệt nhất phải là từ giữa tháng 11/1984 đến giữa tháng 3/1985. Giai đoạn này 2 bên tranh giành nhau quyết liệt cao điểm 685 và bình độ 300-400. Ngày đêm không lúc nào ngơi tiếng súng nổ ( trừ mồng 1 tết âm lịch).
Các cụ có tài thao lược mà cán binh ở dưới không giỏi, không tốt, không đồng lòng thì làm sao 356 lấy được 685. Rồi suốt từ 18/12/1984 đến 10/3/1985 thay nhau chốt giữ. Cơm sấy, nước suối, bám đá, đội pháo quên thân, quăng quật ngày đêm để giành giật với thù từng mỏm đá, gốc cây của Vị Xuyên, Hà Giang. Những người lính của sư đoàn 356 đã từng sống và chiến đấu trong những ngày tháng ác liệt ấy. Chúng ta có quyền được tự hào nhắc lại, viết lại, làm rõ hơn cái tốt đẹp, lòng dũng cảm, kiên cường, sự đóng góp và hi sinh không nhỏ của chiến sĩ sư đoàn 356 và đồng đội trong cuộc chiến chống quân xâm lược tại biên giới Vị Xuyên, Hà Giang.

Diễn biến trận 12/7/1984


CCB Đng Vit Châu người ngoài cùng bên trái


4h5 phút có 3 tiếng gõ nhẹ trên máy bộ đàm. Đồng chí Bộ B trưởng thông tin báo cáo: "Lệnh nổ súng". Phía trước mặt, rồi cả thung lũng Nậm Ngặt lửa sáng rực. Tiếng pháo cối, lựu đạn, 12ly7, DKZ, AK...nổ. Mặt đất rung chuyển. Tôi lệnh cho đồng chí Bộ bằng mọi cách liên lạc được với các mũi, hướng, cũng như cấp trên nhưng rất nhiễu, chuyển về sóng phụ cũng không liên lạc được. Tôi lập tức leo lên phía trên đỉnh quan sát nhưng cũng chỉ thấy khói lửa và tiếng nổ của các loại súng. Tai ù đặc mà lòng nóng như lửa đốt bởi không liên lạc nắm bắt được tình hình phía trước của đơn vị cũng như các mệnh lệnh của cấp trên.
6h10 phút, đồng chí Bộ hô to: "Đã chiếm được D3, tiểu đoàn 3 xuất kích"!
Tôi hỏi:"Lệnh của ai"? Đồng chí Bộ trả lời:"Tham mưu trưởng Kham". Tôi lập tức điện gặp đồng chí Lan C trưởng C12 nói rõ hiện ta đã chiếm được D3, địch đang chống trả quyết liệt. Đồng chí cho hỏa lực chế áp trận địa cối của địch sau 772 để thê đội 2 xuất kích. Sau loạt tiếng nổ đầu nòng hỏa lực của ta, tôi ra lệnh toàn đơn vị xuất kích. Các cỡ súng thi nhau nổ. Tiếng hô xung phong vang động cả thung lũng Nậm Ngặt. Xách AK vận động theo đơn vị mà lòng tôi trào lên niềm vui khôn tả. Vượt qua khe Cụt, tới khu vực có hòn Đá Dựng gặp đồng chí Bính trợ lí tác chiến tay cầm súng ngắn đang chỉ huy bộ đội xung phong. Tôi chỉ thẳng lên phía mục tiêu rồi vượt lên phía trước. Lúc này, các cỡ súng của địch tập trung vào hướng chúng tôi. Đạn bay ràn rạt, đất đá tung tóe, cây cối đổ ngổn ngang. Bám vào sườn núi tôi vượt lên một quãng khoảng 15m thì gặp đồng chí Hoa C phó C11 đang ép mình vào rãnh núi. Tôi hỏi Hoa:"Anh Thanh đâu"? Hoa trả lời:"Em bị thương", rồi chỉ tay về phía đỉnh đồi. Tôi vượt lên 7m nữa thì gặp đồng chí Minh C trưởng mình trần máu me bê bết nằm ngất lịm. Tôi ngồi xuống ôm lấy Minh, Minh mở mắt thều thào: "Anh Thanh đã hi sinh". Rồi Minh chỉ tay về hướng đỉnh đồi. Tôi bảo anh em đưa ngay đồng chí Minh xuống và tiếp tục vượt lên. Trước mặt sau lưng, đất đá bay ràn rạt.
‘ Tôi bám được đường ngang lưng chừng D3. Đường này rộng khoảng 2m, cách chiến hào phía trước khoảng 20m. Tôi dừng lại và nhảy ngay vào 1 hố pháo cạnh mép đường. Sương mù dày đặc, cách 5-7m cũng khó phát hiện ra nhau. Anh em thấy tôi thì vô cùng mừng rỡ. Phía trước là C10 có đồng chí Cúc C viên, Hiền C phó, Tiếp xạ thủ B40, Đoan A trưởng...phân đội DKZ đồng chí Thành, đồng chí Quý. Bên cánh phải, đồng chí Toản C viên C11, đồng chí Đích và 1 số anh em khác. Cạnh tôi là anh em D bộ, Tuấn, Thọ, Ba, Kí, Chính, Bộ, Kim, Thanh B trưởng vận tải, Hoan... khẩu đội MK19 đồng chí Lý, Sĩ... Toàn bộ đội hình đã nằm gọn trên khu vực Đầu Voi và sườn phía Nam D3. Lợi dụng sương mù, tôi cho gọi Cúc và Toàn nắm lại tình hình đơn vị. Được biết C11 bị thương vong gần hết, phân đội theo đồng chí Thanh xung phong đánh vào bên phải D3 không liên lạc được. C10 đã chiếm được 1 đoạn chiến hào. Hỏa lực địch bắn thẳng, đã có thương vong, đạn dược không còn được bao nhiêu.
Lúc này, đồng chí chiến sĩ thông tin( mạng của sư đoàn) đi với đồng chí Thanh chạy tới. Tôi hỏi ngay:" Thanh đâu"? Đồng chí đó lắc đầu và chỉ về phía trên đỉnh đồi và báo cáo chỉ huy sư đoàn cần gặp thủ trưởng. Tôi chỉ tay về phía địch nói:" cấm gọi thủ trưởng". Rồi cầm tổ hợp báo cáo trực tiếp tình hình đơn vị với đồng chí Điếm sư đoàn trưởng. Tôi bảo với Cúc và Toản:" hiện nay chần chừ là chết, các anh về cho bộ đội triển khai công sự, giữ chắc khu vực đã chiếm". Tôi gọi pháo cấp trên chi viện, chuẩn bị xung phong...
Anh em C10 dùng lựu đạn ném mạnh về phía trước. Địch tưởng ta xung phong. Các hỏa điểm của địch phát lộ. Xạ thủ B40 cứ nhằm vào mà khai hỏa. Tiếng súng lại rộ lên, đạn bay chiu chíu trên đầu. Sương tan dần, toàn bộ đội hình lộ rõ trên sườn đồi. Bên cánh phải xuất hiện 1 ổ hỏa lực bắn xả vào sườn đơn vị. Đồng chí Cúc chạy xuống báo cáo anh Hiền bị thương xin được rút quân. Tôi nói với Cúc:" bây giờ, chỉ có tiến chứ không có lùi". Cúc khóc và chạy đi...
Địa hình hẹp lại dốc, khẩu đội MK19 không thể triển khai giá súng bắn được. Tôi vẫy tay gọi Lí, rồi chỉ về mỏm đồi phía sau bảo đưa khẩu đội xuống đấy giá súng. Nhằm hỏa điểm phía sườn phải mà bắn. MK19 vừa bắn được một loạt thì:" Bùm". Toàn bộ khẩu đội bị DKZ của địch bắn vào. Tất cả anh em khẩu đội đều hi sinh. Quân địch la hét rất rõ:" Tran trả, tran trả"...
Một loạt rồi hai loạt AK bắn gần, đanh gọn. Tiếng chân địch xô nhau chạy, rồi lựu đạn và các cỡ súng nổ chát chúa, khói bụi mù mịt. Đồng chí Thanh B trưởng vận tải trúng đạn hi sinh. Tôi phẩy tay bảo đồng chí Thọ, đồng chí Bảo y tá đưa Thanh xuống.
Tưởng tôi ra lệnh rút, toàn bộ đội hình của đơn vị theo nhau trượt xuống chân đồi. Tôi cầm lấy tổ hợp trên tay chiến sĩ thông tin báo cáo với đồng chí Điếm:"hiện chúng tôi không đủ sức tiến công, địch đang phản kích rất mạnh, xin pháo bắn ngay vào D3, chỗ tôi đang ở - tôi K3". Đồng chí Điếm hỏi lại:" Đồng chí tên gì"? Tôi trả lời:" Tôi là Châu". Trao tổ hợp cho chiến sĩ thông tin, tôi nói:" hướng đồi xanh-tìm về đơn vị". Nhìn ngược lên đỉnh đồi trống hoác. Đường tiến nham nhở vết đạn. Trận địa lúc này im ắng lạ thường. Tôi như kẻ mộng du, ôm chặt súng. Thả người trượt xuống chân đồi...
Địa hình hẹp lại dốc, khẩu đội MK19 không thể triển khai giá súng bắn được. Tôi vẫy tay gọi Lí, rồi chỉ về mỏm đồi phía sau bảo đưa khẩu đội xuống đấy giá súng. Nhằm hỏa điểm phía sườn phải mà bắn. MK19 vừa bắn được một loạt thì:" Bùm". Toàn bộ khẩu đội bị DKZ của địch bắn vào. Tất cả anh em khẩu đội đều hi sinh. Quân địch la hét rất rõ:" Tran trả, tran trả"...
Một loạt rồi hai loạt AK bắn gần, đanh gọn. Tiếng chân địch xô nhau chạy, rồi lựu đạn và các cỡ súng nổ chát chúa, khói bụi mù mịt. Đồng chí Thanh B trưởng vận tải trúng đạn hi sinh. Tôi phẩy tay bảo đồng chí Thọ, đồng chí Bảo y tá đưa Thanh xuống.
Tưởng tôi ra lệnh rút, toàn bộ đội hình của đơn vị theo nhau trượt xuống chân đồi. Tôi cầm lấy tổ hợp trên tay chiến sĩ thông tin báo cáo với đồng chí Điếm:"hiện chúng tôi không đủ sức tiến công, địch đang phản kích rất mạnh, xin pháo bắn ngay vào D3, chỗ tôi đang ở - tôi K3". Đồng chí Điếm hỏi lại:" Đồng chí tên gì"? Tôi trả lời:" Tôi là Châu". Trao tổ hợp cho chiến sĩ thông tin, tôi nói:" hướng đồi xanh-tìm về đơn vị". Nhìn ngược lên đỉnh đồi trống hoác. Đường tiến nham nhở vết đạn. Trận địa lúc này im ắng lạ thường. Tôi như kẻ mộng du, ôm chặt súng. Thả người trượt xuống chân đồi...
Sáng ngày 13/7, khoảng 8h sáng, Hoan từ trên đỉnh hang tụt xuống báo với tôi:" Địch bên D3 đông lắm". Tôi cùng Hoan leo lên quan sát bên ấy địch cũng đang thu dọn chiến trường, có cả mấy em quần trắng áo đỏ phất phới. Hoan giương súng đòi bắn, tôi chỉ xuống anh em thương binh tử sĩ ở phía dưới. Hiểu ý, Hoan kéo khóa an toàn khẩu súng, rồi im lặng nhìn sang phía địch. Tôi tụt xuống đến hầm của Bính. Lúc này, Bính đang ngồi cạnh võng của Đa B trưởng C10 bị thương ở bụng, được băng bó nhưng ruột cứ trào ra. Đa quằn quại, thở rất mệt nhọc. Tôi cho dùng bát ăn cơm đậy và tiếp tục băng lại. Quá trưa thì Đa tắt thở. Ở hầm thông tin, có chiến sĩ bị thương phần bụng dưới ngày càng phình to lên, đau đớn quằn quại, cứ xin được chết. Tôi nói với Bảo y tá:" Có thể chọc xi-lanh vào mà hút nước tiểu ra". Bảo lắc đầu quầy quậy:" Chưa được học". Đau đớn, mệt mỏi, đói khát. Tôi không đành lòng nhưng cũng không làm gì được... Thời gian nặng nề trôi, rồi trời cũng tối. Khoảng 19h, có thêm đồng chí Long C phó C16 đến bắt liên lạc xin được giúp đỡ. Tôi bảo Hoan và Bộ ở lại canh gác và chăm sóc anh em. Còn tôi cùng với Long đi đến trận địa của C16. Trên đường vào gặp xác các tử sĩ Tiến, Công và 2 tử sĩ của C16. Chúng tôi đặt anh em nằm vào chỗ bằng, rồi đánh dấu. Sau đó vào khu vực hòn đá Dựng với niềm tin mong manh sẽ gặp được Thanh, Minh. Trên D3, chốc chốc địch lại ném lựu đạn. Phía ngoài chỗ tiếp giáp giữa 772 và 685, địch bắn pháo sáng, sáng rực. Khoảng nửa đêm, chúng tôi quay trở về hang thì bộ phận cáng thương của Trung đoàn do đồng chí Hồng, đồng chí Vị; của Tiểu đoàn do đồng chí Tình bí thư đoàn, đồng chí Châu trợ lí hậu cần cũng vừa đến. Lúc này anh em mới tin rằng tôi còn sống...

Comment:
Nặc danh 05:20 Ngày 09 tháng 1 năm 2013

Xin ghi lòng tạc dạ sự hy sinh vô giá của những người lính ngày ấy.

Cách đây mấy hôm vô tình tôi được nói chuyện với một cựu chiến binh người Hà Bắc đã từng đóng quân trên biên giới Lạng Sơn những năm 1982-1986 là thời điểm cả nuớc ta vô cùng gian nan, gian khổ về mọi mặt. Giờ giữa cuộc sống đời thường anh làm công việc của một nhà nông: đồng ruộng cấy hái, chăn nuôi và trồng trọt thêm rau cỏ. Các con anh thấm thía những lời bố dạy: đời bố lúc còn trẻ đã dành trọn tuổi xuân trong những tháng năm quân ngũ vào thời kỳ cả nước gian khổ, và khi xuất ngũ trở về cũng đã ngoài 20,việc học cũng đã lỡ dở do bị gián đoạn , hơn nữa phải tham gia lao động sản xuất để kiếm sống nên cũng không còn tâm trí gì mà nghĩ tới chuyện học hành nữa,vì vậy các con phải luôn cố gắng sống cho xứng đáng với sự hy sinh của bao người để giữ được hoà bình cho nước Việt Nam có được như ngày hôm nay.Những niềm mơ ước học hành của anh thuở nào bị cuộc chiến tranh biên giới phía bắc phũ phàng dập tắt và dập vùi khi anh bước vào tuổi 18- lứa tuổi đầy mơ mộng về tương lai tươi đẹp, nay đã được các con anh tiếp tục nối lại, thắp sáng và đốt cháy bùng ngọn lửa về niềm mơ ước một thời trai trẻ được học hành nhưng đã bị lỡ dở của nhiều người lính của thế hệ những năm 1980 thuở ấy: Các con anh đều biết vượt khó, cố gắng học giỏi và nay đang là sinh viên những trường đại học có danh tiếng.Đấy chính là sự đền đáp công ơn của thế hệ con cháu và là phần thưởng vô giá cho những người lính hy sinh tuổi xuân, tương lai phía trước để bảo vệ Tổ quốc trong chiến tranh giữ nước vĩ đại.Anh cũng kể hầu hết các đồng đội anh sau khi xuất ngũ về đã lao động để kiếm sống vì vào thời kỳ ấy khó có điều kiện mà học hành.Tuy đã gần 30 năm trôi qua nhưng trong ký ức anh chiến trường Lạng Sơn vẫn hiển hiện như năm nào mà khi ấy anh vừa 18 tuổi. Mùa đông rét mướt của miền xuôi khiến anh bất chợt rùng mình mỗi khi nhớ đến cái rét cắt da cắt thịt của gió mùa đông bắc tràn về nơi miền ngược ,kéo theo cái lạnh giá buốt tái tê lùa từng đợt ,hơi băng lạnh buốt ùa ra từng đợt từ vùng núi âm u đầy sương mù bao phủ.Lúc ấy đang thời kỳ xuân trẻ nên sức khoẻ tốt cố gắng cắn răng chịu cái lạnh trong điều kiện thiếu thốn ăn mặc.Cả ngày các anh phải mang vác vận chuyển hết sức nặng nhọc những tấm bê tông nặng tới 45kg lên địa hình núi dốc để làm hầm trú ẩn.Khi hành quân phải mang vác ba-lô, vũ khí nặng trĩu vai gầy ,leo trèo qua những địa hình núi non dốc ngược hiểm trở tới cả hai chục cây số để làm quen với gian nan, rèn luyện thể lực.Hàng ngày các anh phải sống trong hầm làm trong núi, hang đá chật chội, ăn cơm bằng gạo sấy không được nấu nóng, thức ăn chẳng có gì.Điều kiện gian khổ như thế nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo thằng tàu tấn công bằng pháo, đột nhập bất thình lình.
Anh kể có những chiến sĩ đang đi hoặc đang vác bê tông nặng bất ngờ bị tàu bắn pháo hay vướng mìn,trong tích tắc thân thể nổ tung nát tan bay tứ tung làm nhiều mảnh...khiến đồng đội đau thương vô tận.Có lần bọn tàu bắn pháo sập hầm hy sinh 8 bộ đội, mà nguy hiểm ở chỗ cứ chỗ nào có hầm trú ẩn của bộ đội mình là pháo tàu nó bắn trúng chỗ đó.Thì nghe nói hồi trước bác nào tận trên trung ương đã nhờ tàu in bản đồ, nó không biết các toạ độ mới là điều lạ, thảo nào cứ chỗ nào có hầm bên mình nó không bắn trúng mới là lạ!Anh còn kể có trận bọn chúng tràn sang nhiều như vãi trấu, trong lúc nguy ngập ấy các cố vấn Liên -Xô đã mưu cao đánh cho sập cầu , bọn giặc thấy thế bèn rút về chen nhau tháo chạy bơi qua sông, lúc ấy các cố vấn mới lệnh thòng điện xuống lòng sông khiến giặc cỏ bị điện giật chết như ngả rạ , gây tắc cả một khúc sông Kỳ Cùng. Bọn giặc Tàu ô ác tày trời còn giết bao nhiêu phụ nữ ,trẻ em và bắt đi của ta rất nhiều phụ nữ, thanh thiếu niên đem sang Tàu ...Một thời trai trẻ chiến chinh làm bạn cùng sương gió nơi biên cương núi rừng phía bắc của anh tràn đầy những dòng ký ức dạt dào tuôn chảy.Màn đêm buông ngập xuống nơi làng quê yên ả khiến cả không gian bao phủ một màu tối sẫm.Những thanh niên trẻ tuổi nô nức đi chơi tối,dạo bước trong khung cảnh cuộc sống làng quê về đêm yên ả, mà trong số họ liệu có ai biết rằng người cựu chiến binh đứng bên hè đường kia đang đắm chìm trong suy tư giữa thực tại thanh bình với quá khứ dữ dội của thời trai trẻ gian khổ mà hào hùng đã lùi xa cách đây gần 30 năm.Tuổi trẻ lúc ấy và tuổi trẻ bây giờ.Đất nước thời chiến và Tổ quốc thời bình. uộc sống gian khổ nếm mật nằm gai của tuổi trẻ cách đây gần ba thập kỷ để giữ gìn hoà bình cho dân tộc với cuộc sống thanh bình , cơm no áo ấm , tương lai tươi sáng của tuổi trẻ hiện tại. Sau một mùa đông giá băng ảm đạm, sẽ là một mùa xuân sáng tươi với bao mầm cây xanh non mang tới sự sống đâm chồi , và ngàn hoa đua nhau nở. Xin ghi lòng tạc dạ sự hy sinh vô giá của những người lính ngày ấy đã sống chết trong khó khăn gian khổ để bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ nhân dân khiến cho những rừng hoa hoà bình,mầm xanh non của sự sống Việt Nam mới đâm chồi nảy lộc được như ngày hôm nay...

Honngv:   
Mình vào lính năm 1975. Năm 1980- 1981 mình fải trực chiến tại Lạng Sơn, với cương vị Tiểu đoàn fó, trực tiếp chỉ huy và huấn luyện 1 trung đội lính công binh (vì gắn với kỹ thuật) đặc trách cách đánh mìn bằng điều khiển nổ từ xa. 1 thằng bạn thì trực ở Cao Bằng. Tất nhiên nếm đủ mùi gian khổ của chiến trường và cái rét vùng biên fía bắc. 1 chú lái xe, trên đường chở bọn mình đi công tác đã thiệt mạng ngay cầu Tiên Yên. Mình lên tận sát đường biên thấy cảnh lính ta cõng bê tông làm hầm trú ẩn như Nac danh đã kể. Họ đâu có biết họ là những sen-so sống, là lớp cảnh báo đầu tiên trên biên giới. Lúc đó quần áo rét rất ít, dày thì không. Mình mượn được đôi ủng cao su, ngồi sưởi cháy cả mõm.
Sau, suốt quá trình công tác không bao giờ có ai nhắc đến những ngày gian nan ấy, cho tận lúc về hưu cũng chẳng có quyền lợi gì (vì nếu tham gia như vậy trong CT chống Mỹ thì đc hưởng chế độ chiến trường). Thật nhục nhã và bất công.              

8 thg 1, 2013

Mệt mỏi



Võ Trung Hiếu

Mệt mỏi …
Vì mưa nắng, kẹt xe và khói bụi
Vì những đường phố cứ mãi đông nghịt người
Vì những ” cắt trĩ mạch lươn”, ” khoan cắt bê tông ” dán đầy cột điện
Vì những tờ bướm tiếp thị ngoa ngoắt vứt đầy khắp nơi

Mệt mỏi …
Vì các em teen xinh xắn bây giờ hơi tý là chửi thề cong môi
Vì những trận bóng đá kịch cọt sặc mùi bán độ
Vì bọn MC và gameshow ngày càng loạn ngôn nhí nhố
Vì lên tivi chém gió với anh Lê Hoàng lúc nửa khuya tự dưng thành mốt thời trang
Vì các sao showbiz sau khi còm cõi tài năng chỉ còn cách khoe hàng
Hâm lại những trò vui rẻ tiền đã nhạt

Mệt mỏi …
Vì lương cứ mãi ì à ì ạch
Vì phí gửi xe và tiền gas-điện vừa tăng gần gấp đôi
Vì tiền tiết kiệm cứ lặng lẽ theo lạm phát bốc hơi
Vì ngân hàng và bất động sản ế ẩm suốt ngày a lô léo nhéo chào mời
Vì bao câu hỏi nhói lòng chưa có hồi âm từ nghị trường quốc hội
Vì nước xuất khẩu gạo hạng nhất hành tinh mà dân vẫn còn người đói
Vì các quan thời nay trình độ thanh minh thanh nga quá giỏi
Vì ” dân trí thấp”, vì thằng ” khách quan “…

Mệt mỏi …
Vì những promotion, report, deadline
Cuộc đời này chẳng lẽ chỉ toàn mua với bán ?
Nếu loài người chỉ biết ăn xong rồi vứt đũa chạy ùa đi săn lợi nhuận
Ai hơn ai thiệt ai lỗ ai lời ?
Hành tinh này liệu sẽ còn có một tương lai ?

Mệt mỏi …
Vì khẩu hiệu kiểu Liên Xô từ tivi cứ ong ỏng nhét vào tai
” Đẩy mạnh” cái này, ” phát huy ” cái nọ …
Xin lỗi các vĩ nhân !
Nếu các ngài biết vừa nói vừa làm
Thì đất nước đã không nghèo khó
Thì con cháu chúng ta không cần è lưng trả nợ
Và niềm tin đã không thêm một lần tan vỡ …

Mệt mỏi …
Vừa sống vừa lo vừa buồn vừa sợ
Vì chả biết dúi niềm tin và hy vọng vào đâu
Từng sợi tóc ưu tư ngả bạc trên đầu
Ngày qua áo cơm quay vòng nhạt thếch

Mệt mỏi …
Vì mỗi ngày vẫn phải có đôi lần diễn kịch
Có khi vì mình, có lúc vì người
Ngơ ngẩn mềm lòng, chiếc mặt nạ đánh rơi
Đành đứng lặng cho người đời ném đá

Mệt mỏi …
Thêm một lần vấp ngã
Liệu ta còn buồn đứng lên ?

23.11.2012
VTH
Cọp từ quechoa

7 thg 1, 2013

Ði tìm một biểu tượng cho Việt Nam thời XHCN


Sunday, January 06, 2013 3:33:54 PM

Tạp ghi Huy Phương

Hễ nói đến chiếc lá phong màu đỏ Mùa Thu là người ta nghĩ đến quốc kỳ Canada, hay nói đến con Kangaroo thì không ai còn lạ đó là biểu tượng của nước Úc. Rồi hoa anh đào phải chăng là hình ảnh của nước Nhật, Vạn Lý Trường Thành là hình ảnh của Trung Hoa, nhìn tháp Eiffel người ta nghĩ đến nước Pháp. Còn nói đến cái búa, cái liềm màu đỏ máu thì khó quên Liên Xô cũ và các chư hầu của nó. Còn bao nhiêu biểu tượng trên thế giới này đã gắn liền với tên tuổi của những đất nước ấy.

Từ lâu đã có nhiều người muốn đi tìm một hình ảnh nào đó có thể làm biểu tượng cho đất nước Việt Nam thời Cộng Sản độc đảng. Làm sao để khi nhìn thấy nó thì người ta nghĩ đến VNCS, mà nói đến VNCS thì phải liên tưởng ngay đến “cái đó”.

Ði tìm cái gì quý giá, độc đáo nhất của Việt Nam thường đem ra phơi bày ở nước ngoài, thì ra đó là món “duyên dáng Việt Nam,” như lãnh tụ Cộng Sản đã từng hãnh diện khoe “con gái Việt Nam đẹp lắm!” Vậy nói đến đất nước ấy bây giờ, người ta không thể không nghĩ đến món “đặc sản đàn bà”.

Các viên chức ngành du lịch Việt nam đang cãi nhau về chuyện quảng cáo cho du lịch, ai cũng than không có ngân quỹ để quảng cáo cho ngành du lịch. Ông Nguyễn Mạnh Cường, phó tổng cục trưởng du lịch Việt Nam, cho rằng cần có tiền thêm để quảng cáo, cục này đã bỏ $50,000 chỉ để làm một đoạn phim chiếu ở Pháp. Ông Vũ Thế Bình, một cựu nhân viên, cũng của cục này, nhắc lại là đạo diễn Việt Nam quá kém, nên đã bỏ ra $50,000 thuê Trung Quốc làm một đoạn phim 10 phút chiếu tận Bắc Kinh. Ông Nguyễn Ðức Quỳnh ở Ðà Nẵng thì sang tận Singapore bỏ $60,000 thuê làm mấy đoạn phim ngắn. Một hình ảnh trong các đoạn phim này là hai cô thiếu nữ Việt Nam mặc “bikini” tên bãi biển, món “câu khách” cổ điển.

Trong khi người ta than phiền thiếu tiền làm quảng cáo thì thực tế là theo tài liệu của Tổng Cục Du Lịch, chỉ trong 9 tháng đầu của năm 2012 Việt Nam đã có 4.85 triệu lượt khách ngoại quốc, nhiều nhất là khách Nam Hàn, tăng 53%, khách Singapore, tăng 49%, Nhật 32%, Mỹ 26%, Úc 20%... Chỉ nói đến khách quốc tế, mục tiêu của thành phố Hà Nội trong năm 2013 là sẽ thu hút 2.25 triệu lượt khách, năm 2015 sẽ là từ 7 đến 8 triệu, năm 2020 là từ 11 đến 12 triệu. Doanh thu từ du lịch sẽ đạt $18 đến $19 tỷ năm 2020.

Một đất nước trộm cắp hoành hành, cướp giật như rươi, ăn mày và kẻ bán hàng rong bám sát khách như đĩa đeo, giao thông thiếu an toàn, chỉ có 91 triệu dân (2012) mà mỗi năm có đến 4, 5 triệu lượt khách ngoại quốc vào, kể cũng lạ. Thực sự là chưa nghe ai tố cáo Việt Nam có sex-tour, nhưng đến Việt Nam tìm một cô gái “tàu nhanh” hay qua đêm còn dễ hơn đi tìm một ổ bánh mì thịt ngoài hè phố.

Chuyện bán dâm bây giờ không còn là chuyện gì bí mật, nhạy cảm phải tránh né nữa. Nó “lền khênh” như những chiếc xe gắn máy trên đường trong giờ tan sở. Ngày xưa chỉ có giới thất học, nghèo hèn mới sa cơ vào nhà thổ, giấu biệt gia thế để khỏi nhục nhã đến tông môn, họ hàng. Ngày nay, người ta đánh giá con người qua bề ngoài, đua nhau xe đẹp, nhà sang, điện thoại xịn, áo quần, mỹ phẩm cao cấp, nên đồng loạt đàn bà vào trận. Báo chí Việt Nam đã nhiều lần nêu đích danh những diễn viên điện ảnh, người mẫu, ca sĩ, hoa hậu, sinh viên trường múa, không có “tước hiệu” gì thì cũng là sinh viên, học sinh.

Một xã hội chỉ nhắm vào việc khai thác thân xác đàn bà để kiếm tiền, càng có nhiều cuộc thi hoa hậu bao nhiêu, xã hội càng có nhiều ứng viên, tước hiệu để hành nghề chừng ấy.

Ðó là hình ảnh của những thành phố lớn ở Việt Nam.

Ra ngoại ô, “trên những nẻo đường Việt Nam, suốt từ Nam Quan cho tới Cà Mau...” có tắm khoáng ở Ba Vì, cà phê đèn mờ ở Mạo khê, Quảng Ninh, hớt tóc thanh nữ ở Saigon, mãi dâm trá hình hay mãi dâm công khai thì không chừa một thành phố nào, từ đất Cảng (Hải Phòng) cho đến đất Mũi (Cà Mau). Những vùng đất ruộng đồng, sông rạch thanh bình, chơn chất ngày trước đã “thay da đổi thịt” bằng võng ôm, chõng ôm, tắm ôm và đàn bà trở thành một thứ mua vui ở đâu cũng có. Ðất nước này đã từng rêu rao “ra ngõ gặp anh hùng,” không biết có đúng không, chứ bây giờ ở Việt Nam, ra đường, chắc chắn đi đâu cũng được gặp “gái mời!”

Ðã bao nhiêu gia đình Việt kiều Mỹ, Úc, Canada... đổ vỡ vì đòn chiêu dụ của gái Việt Nam, nhiều người dở khóc dở cười vì muốn trở về Việt Nam cưới vợ.

Ðàn bà Việt Nam giá rẻ, đó là nhận xét của đám đàn ông Trung Cộng sang Việt Nam kiếm vợ. Theo bài báo “Tại sao trai Trung Cộng ngày càng thích con gái Việt Nam?” đăng trên tờ Tân Hoa Xã, chỉ cần có vài trăm triệu, nam giới nước này đã có thể lấy được cô vợ Việt xinh tương đối, mà với số tiền này, chưa chắc đã qua được cửa nhà những cô nàng Trung Cộng trung bình. Theo đó, bài báo “khen” con gái Việt với vô số mỹ từ: Có thân hình chuẩn và xinh đẹp, mùi thơm, da trắng, chân thực, ít chưng diện, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên...

Con gái Việt Nam từ thời mở cửa, đã lên cơn sốt bỏ quê hương chân lấm tay bùn đi lấy chồng ngoại quốc. Không chỉ các cô gái mới lớn, giấc mơ đổi đời lấy chồng ngoại đã đành, nhiều bậc cha mẹ sốt ruột, tìm cách chạy tiền xã, ấp để sửa lại khai sinh, hộ khẩu, chứng minh nhân dân, nâng tuổi con gái cho đủ 18 để kịp ra đi lấy chồng Nam Hàn, Ðài Loan hay Trung Cộng như ngày xưa thiếu niên khai gian tuổi để tòng quân giết giặc! Hiện tượng này đã khiến xảy ra những buổi coi mắt, kén vợ mà số ứng viên lên đến 161 người, vào ngày 3 tháng 11, 2008 tại Sài Gòn, một con số không nhỏ, chủ yếu là từ Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Theo số liệu của Nam Hàn số cô dâu Việt là 7,636. Từ năm 2003, chúng ta đã có 11,358 cô gái đi lấy chồng Ðài Loan. Theo thống kê của Bộ Công An con số các cô gái Việt sang Trung Cộng lấy chồng không đăng ký kết hôn, tỉnh Lạng Sơn có khoảng 4,800 người, Hải Dương 4,600, tỉnh Thái Bình 4,200... và họ đã đưa hàng trăm con lai về Việt Nam.

Nhưng sự thật con số còn lớn hơn nhiều. Trong thời gian từ năm 1995 đến 2003, tính chung cả nước đã có 60,000 thiếu nữ đã được cho phép xuất ngoại lấy chồng. Mặt khác, theo con số được đưa ra cách đây vài năm ông Gow Wei Chiou, đại diện Ðài Loan ở Hà Nội, đã xác nhận có 100,000 cô gái Việt bị bán hay được gả hợp pháp sang nước ông. Con số do Hội Liên Hiệp Phụ Nữ đưa ra, cũng có khoảng 28,000 cô gái đi lấy chồng Nam Hàn.

Việt Nam từ thời lập quốc đến giờ chưa bao giờ phụ nữ bị hạ phẩm giá như một món hàng rao bán rẻ tiền như ngày hôm nay và nhà hàng “Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đang quảng cáo món “đặc sản” đàn bà tận tình.

Nếu muốn đi tìm một biểu tượng cho cái đất nước thời đốn mạt này, có lẽ không gì hơn là hình ảnh người đàn bà khốn khổ Việt Nam. Một chiếc lá tượng trưng cho thân thể đàn bà, chiếc lá nho có vẻ phương Tây, thì ta dùng hình ảnh chiếc lá đa cho đượm màu dân tộc vậy!

Giữa thua và thắng


December 28, 2012 By Alan Phan 300 Comments

BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ BẨY 29/12/2012

Gần đây, trên mạng Net của các cộng đồng Việt Nam, người ta bàn luận nhiều về cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức. Tôi không có ý kiến vì đây chưa phải là một tài liệu lịch sử theo chuẩn mực của khoa học (cần nhiều soi mói và điều nghiên hơn). Nhưng chữ “người thắng cuộc” mà tác giả dùng vẫn là một thể hiện của suy nghĩ cổ điển.

Qua 10 ngàn năm của lịch sử nhân loại, khi cuộc chiến chấm dứt, kẻ chiến thắng thường được phép hôi của, hiếp phụ nữ, bán trẻ con, cầm tù bại quân và nhục mạ mọi văn hóa tàn tích của nhửng phe thua cuộc. Nói chung, kẻ thắng thường có nhiều chiến lợi phẩm và huân chương, tạo nên một động lực mạnh mẽ cho các cuộc chiến tiếp theo.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một nghịch lý hiện diện sau 1975. Cuộc sống của 95% người thua cuộc sau vài năm (phải lang bạt kỳ hồ khắp năm châu) lại sung túc về vật chất gấp 10 lần 95% những người thắng cuộc. Chưa kể đến những thỏa mãn khác về tinh thần như tự do, chất lượng giáo dục, môi trường sống và tương lai con cháu…hay thế đứng trong xã hội.

Trong khi những người thua cuộc ổn định với đời sống của nhiều thế hệ và có thì giờ tạo dựng một văn hóa mới cho Việt Nam, phe thắng cuộc vẫn loay hoay tìm lối ra trong cái đầm lầy họ tự đào. Sau 30 năm chiến tranh và 38 năm xây dựng xã hội trong hòa bình, nhiều chuyên gia tiên đoán là phe thắng cuộc sẽ cần hơn 40 năm nữa để bắt kịp cuộc sống hiện tại của Thái Lan.

 Tôi nghĩ chúng ta nên suy nghiệm thêm về danh từ thua” và “thắng”?
 
Cọp từ Alan Phan bkog