2 thg 5, 2013

Tranh Bùi Xuân Phái họa thơ Hồ Xuân Hương


Đỏ tái mặt xem tranh Bùi Xuân Phái minh họa thơ Hồ Xuân Hương 

Những ý thơ gợi tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương được khắc họa sinh động qua nét bút phóng khoángcủa cố danh hoạ Việt Nam. 

Đó là bộ tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ theo ý thơ của Hồ Xuân Hương, được cố danh họa thực hiện từ năm 1982 đến 1986. Bộ tranh này hiện do người con trai của ông là họa sĩ Bùi Thanh Phương lưu giữ. Gầy đây, nhiều tác phẩm trong bộ tranh đã được giới thiệu trên mạng. 

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu...
(Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương).

Lắt lẻo cành thông cơn gió thổi
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
(Đèo Ba Dội - Hồ Xuân Hương).

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay
(Quả mít - Hồ Xuân Hương).

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn...
(Tự tình - Hồ Xuân Hương).

Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
(Tự tình - Hồ Xuân Hương).

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh
(Tranh hai Tố nữ - Hồ Xuân Hương).

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm...
(Hang cắc cớ - Hồ Xuân Hương).

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Ṿây mà chút tẻo tèo teo
Thuyền cừ cương muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn leo
(Kiếp Tu Hành - Hồ Xuân Hương).

Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng...
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Cầu trắng phau phau đôi ván ghép
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông...
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng
(Giếng nước - Hồ Xuân Hương).

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long...
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông..
.
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

 
 .
 
.
 
.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở, ở không xong
(Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương).

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày từng ấy, chành ba góc
Rộng hẹp dường nào, cẵm một cay...
(Vịnh cái quạt (1) - Hồ Xuân Hương).

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này
(Vịnh cái quạt (1) - Hồ Xuân Hương).

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa...
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa...
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
(Vịnh cái quạt (2) - Hồ Xuân Hương).

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi...
(Trống thủng - Hồ Xuân Hương).

 
.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!
(Đánh đu - Hồ Xuân Hương).

Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(Mời ăn Trầu - Hồ Xuân Hương).

Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau...
(Dệt vải - Hồ Xuân Hương).

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết...
(Đánh cờ - Hồ Xuân Hương).

... nhận xét:

  1. Nhân xem tranh Bùi Họa Sư vẽ thơ Hồ Nữ Sỹ nghĩ về cái khăn vấn Việt xưa.

    Dẫn là đàn bà hay thiếu nữ,
    khi lõa thể một mình
    hay trong cơn hoan lạc,
    thì đều không có hình ảnh đầu tóc xõa xợi một cách thảm hại,
    mà vẫn nghiêm cẩn tự trọng,
    chứ không đến nỗi mất ý thức một cách nhục nhã.

    Cho hay, tổ tiên ta xưa đã xét chọn y phục nghiêm cẩn đến bực nào.
    Trả lời
    Trả lời
    1. Rất tâm đắc với còm này của cụ cố Hồng
  2. XUÂN THI – XUÂN HỌA

    Chưa trải YÊU, THƯƠNG cho đủ vẻ,
    Xem ra còn thiếu cái … CON NGƯỜI;
    Nếu chẳng XUÂN HƯƠNG khơi Nguồn Hứng,
    Thì đâu XUÂN PHÁI dựng Tranh Đời?

    Chợt đến; Viết đôi dòng trước khi copy lưu „tài liệu“ quý!
    Cảm ơn bác Trang chủ.
    Thân mến.

Bài đoạt giải của cháu Tân Hoa

Honngv: Xin giới thiệu bài viết vừa đoạt giải của cháu Tân Hoa – con gái yêu của Tân Văn Đoàn trên Tuổi trẻ online >>

Thứ Năm, 02/05/2013, 18:08 (GMT+7)
Nhặt đóa hoa vô thường
Bài đoạt giải nhì Nhạc Trịnh trong tôi 2013

“Rồi một chiều tóc trắng như vôi…” Tôi buộc phải gài câu hát bâng quơ mà ba hằng nghêu ngao vào bài thi đại học của mình. Đơn giản vì tôi thích, chẳng thể lý giải được. Mãi đến ngày ba mất, tôi mới mò mẫm đi tìm gốc gác câu hát này. Tôi đã đến với âm nhạc Trịnh Công Sơn như thế.

Tôi nghe và hát nhạc Trịnh mê say lắm, đến nỗi “lây lan” cho cả những người xung quanh. Có lần bạn tôi thắc mắc, không biết “mặt trời đầu môi” là gì. Thú thật tôi cũng không rõ. Và nhiều ca từ trong nhạc Trịnh mặc dù không tỏ tường, nhưng tôi chấp nhận như một lẽ đương nhiên, như thể nó phải là như thế.

Từ đó, Trịnh ru tôi những đêm khó ngủ, vỗ về tôi nỗi mất mát trong đời sống…

Những loài hoa đến từ nhạc Trịnh Công Sơn đẹp lạ lùng đã đành, ngay lũ sâu trong “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều” (Dấu chân địa đàng) cũng dễ thương đến lạ.

Dần dà, khi thứ âm nhạc rất “nuột” (trong suy nghĩ của tôi) được thể hiện qua tiếng hát rất “mộc” của Khánh Ly và giọng ca Trịnh Vĩnh Trinh - người em gái út nhạc sĩ nhẹ thấm vào hồn tôi.

Ca từ, giai điệu là chất liệu mà chỉ những người thấu hiểu mới tự “điêu khắc” nên một “tượng đài” về cái đẹp. Hình mẫu về cái đẹp trong tôi là nhạc Trịnh, mà ngôn từ tôi vốn nghèo nàn khó lý giải. Và tôi chợt nhận ra quan niệm “sống gửi thác về” qua kiếp “Ở trọ” thật mong manh, hư ảo.

Nhưng nếu sự tiến bộ về nhạc Trịnh của tôi chỉ trải ra theo bề rộng, có lẽ tôi không dám chia sẻ điều gì. Cái tôi đạt được là tôi đã lớn lên cùng nhạc Trịnh, theo chiều sâu tâm hồn và hiểu hơn tính Phật ông nhặt nhạnh, gom góp từ đời sống. Nói tôi tiến hóa nhờ nghe nhạc Trịnh cũng không sai.

Nếu như trước kia, “Tôi ơi đừng tuyệt vọng”, “Để gió cuốn đi”, “Ướt mi”, “Rừng xưa đã khép”… biết cách an ủi tôi bằng sự cảm thông, đôi khi còn bình phương nỗi buồn của tôi, thì nay sự buồn bã hay nỗi ám ảnh cái đau trong nhạc Trịnh đã dần được mở nút qua lăng kính Phật giáo.

Cái sự vô thường luôn hiện hữu trong các sáng tác của ông. “Yêu em yêu thêm tình phụ, Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ” (Ru em). Hiểu rằng mỗi con người đều gánh chịu sự khổ đau, ấy là lúc Trịnh Công Sơn đã quá hiểu về lẽ vô thường. Trên cái nền giác ngộ, lòng từ bi bắt đầu nở hoa với khát vọng mãnh liệt thôi thúc con người ta phải thoát ra khỏi khổ đau.

Khi một cơn giận hay nỗi buồn nảy nở, tôi tự nhủ “Để-gió-cuốn-đi” (tiêu đề một bài hát của Trịnh Công Sơn) như một câu niệm chú để đưa mình về trạng thái cân bằng.

“Sống trong đời sống cần có một tấm lòng,
Để làm gì em biết không?
Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi, để gió cuốn đi” (Để gió cuốn đi)

Lúc trước tôi cứ ngỡ làm người tử tế chỉ cần một tấm lòng, nhưng bây giờ tôi mới hiểu tấm lòng vô ngã phải luôn giành thế chủ động. Tôi cũng đã chịu khó đi gõ cửa cuộc đời để tìm đến những nơi thực sự cần mình, thay vì chờ cơ hội tìm đến.

Kinh Pháp cú có mô tả các bậc thánh nhân giống như những con chim bay qua bầu trời, không để lại dấu vết. Ý Trịnh Công Sơn trong câu hát trên muốn nhắn nhủ, một tấm lòng chân thật luôn là kẻ “ẩn danh”, không cần níu giữ gì.

Trịnh Công Sơn đã viết: “Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng, để thấy thuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa”. Chẳng phải ông đã gom ngàn vạn “bông hoa” của đời sống vào âm nhạc đó sao? Vậy thì tôi, kẻ vô danh này, nguyện đi thu nhặt những “đóa hoa vô thường” mà cố nhân đã gửi lại nơi cõi tạm này.

TÂN HOA (Hà Nội)

30 thg 4, 2013

18 thg 4, 2013

Bùa yểm và hiệu ứng của nó ra sao ?

Đền Hùng từng bị đặt bùa yểm?

Cập nhật: 14:01 GMT - thứ tư, 17 tháng 4, 2013

Đền Thượng
Đền Hùng là thánh tích của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay
Đền Hùng thờ Quốc Tổ, nơi linh thiêng bậc nhất của người dân Việt Nam, từng bị người phương Bắc đặt một ‘đạo bùa yểm’ chôn dưới nền đất, một quan chức coi giữ khu đền này khẳng định với báo chí trong nước.
Thông tin này chỉ được tiết lộ sau khi có áp lực từ dư luận đòi giải thích về một phiến đá bí ẩn đặt một cách có chủ đích ngay tại điện thờ của đền Thượng, đền chính trong quần thể Đền Hùng tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Ông Nguyễn Tiến Khôi, người trước đây là quản lý cao nhất ở đền Hùng và là người nắm rõ nhất về phiến đá bí ẩn này, giải thích rằng đó thật ra là một đạo bùa để trấn lại bùa yểm của người phương Bắc.

Bị yểm 600 năm

Từ đó ông Khôi đã nêu rõ các chi tiết về ‘đạo bùa yểm’ này mà lần đầu tiên được tiết lộ với công chúng.
Nói trên trang mạng của tờ Tiền Phong và báo mạng Đất Việt, ông Khôi cho biết trong đợt tu sửa đền hồi năm 2009, các công nhân đã phát hiện ‘một viên gạch lạ có in chữ Hán’ lúc tháo dỡ toàn bộ bệ thờ trên đền Thượng.
Viên gạch lạ này đã được ông Khôi gửi sang cho ông Nguyễn Minh Thông, vốn là đại tá quân đội và hiện là giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng phương Đông, để nhờ nghiên cứu.
Trong báo cáo giải trình của ông Thông cho lãnh đạo tỉnh Phú Thọ được báo Tiền Phong dẫn lại thì trung tâm của ông ‘đã hội thảo nhiều lần’ với ‘một số nhà khoa học, chuyên gia ngoại cảm’ và đi đến kết luận rằng viên gạch là ‘do đạo sỹ của quân Nguyên Mông đem đến đặt từ cuối thời Trần’, tức là tính cho đến nay là hơn 600 năm.
"Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật, Nhà nước và nhân dân. Việc này (đặt đá trấn yểm) đã được các lãnh đạo trung ương, tỉnh đều chứng kiến và biết."
Nguyễn Tiến Khôi, cựu giám đốc Ban quản lý đền Hùng
Theo báo cáo này thì ‘Thời đó phía Nguyên Mông bị thua trận vì bị nhà Trần ta đánh tan ba lần, đã cử đạo sỹ được cải trang sang nước Nam ta, dùng thủ đoạn yểm bùa gạch này tại Đền Thượng’.
Trên viên gạch có ghi dòng chữ Hán ‘Đánh đổ đức sáng Vua Hùng’ và hiện tại vẫn còn được lưu giữ tại Bảo tàng đền Hùng, Đất Việt dẫn lời ông Khôi cho biết.
Do đó, để hóa giải, ông Thông đã đề xuất lên Ủy ban tỉnh Phú Thọ và Bộ Văn hóa tìm một đạo bùa khác để trấn yểm. Đề xuất này, theo ông Khôi, đã được những vị có chức trách đồng ý và ông Thông đã lên kế hoạch thực hiện.
Đạo bùa trấn yểm đó chính là phiến đá đặt trên bệ bát quái trong đền Thượng vốn đã gây xôn xao dư luận trong nhiều ngày qua. Công chúng không hề biết nguyên do cũng như ý nghĩa của phiến đá này nên dẫn đến tâm lý e ngại.

Ý nghĩa gì?

Mặt trước
Mặt trước của phiến đá bùa là trận đồ bát quái cùng với thần chú Mật tông
Trong báo cáo của mình, ông Thông đã giải thích về nội dung bùa trấn này như sau:
Phiến đá được chọn là do giám đốc một công ty đá quý ở Hà Nội có tên là Nguyễn Đình Khảm cung tiến. Đây là viên đá xanh ‘có nhiều năng lượng tốt lành, có khả năng hóa giải hung khí và tiếp nhận năng lượng của tinh tú trời đất’.
Mặt trước vẽ trận đồ bát quái của danh tướng Trần Hưng Đạo dựa trên tác phẩm ‘Binh thư yếu lược’của ông và chòm sao Bắc Đẩu. Trên mặt trận đồ là câu thần chú Phật giáo Mật tông.
Mặt sau của đạo bùa này là ấn vuông của Vua Hùng đóng ở trên và lá bùa giải bách họa vẽ ở phía dưới.
Ông Thông giải thích rằng linh khí của Đức Phật kết hợp với linh khí của Đức Thánh Trần sẽ ‘hóa giải được’ đạo bùa yểm của người phương Bắc và sẽ giúp cho vận nước được hưng thịnh.
Ông Nguyễn Tiến Khôi được Đất Việt dẫn lời nói ông cam đoan ‘viên đá đang rất linh ứng và hiệu nghiệm’.
“Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật, Nhà nước và nhân dân,” ông nói và cho biết việc này đã được ‘các lãnh đạo trung ương, tỉnh đều chứng kiến và biết’.

Ký ức dân gian

"Đã có nhiều dấn ấn trong tâm lý dân gian qua các đời rằng người Tàu hay sang đây làm các thứ tệ hại như yểm bùa, triệt long mạch và đập phá những thứ có giá trị tâm linh của người Việt."
Nhà sử học Lê Văn Lan
Trao đổi với BBC từ Hà Nội, nhà sử học Lê Văn Lan cho biết chuyện người phương Bắc tìm cách yểm bùa nước Nam là ‘có thực’ mà ‘ý thức dân gian còn ghi lại’.
Chính sử không hề đề cập đến việc này nhưng trong ngoại sử và sách địa lý thì có chép, ông Lan nói.
“Đã có nhiều dấn ấn trong tâm lý dân gian qua các đời rằng người Tàu hay sang đây làm các thứ tệ hại như yểm bùa, triệt long mạch và đập phá những thứ có giá trị tâm linh của người Việt,” ông giải thích.
“Tôi đã đi điền dã và sưu tầm nhặt nhạnh được nhiều lời kể dân gian không chỉ tập trung vào Cao Biền (quan đô hộ đời Đường) mà còn cả các đời khác rằng các thầy địa lý người Tàu đi vào đây (nước Nam) bán thuốc đeo quang gánh, đội nón lá rộng vành,” ông nói.
“Họ đi đến đâu thường hay xem đất, tìm đất... sau đó chôn bùa hoặc đào đất để phá long mạch.”
Mặt sau
Đạo bùa này được cho là trấn bùa xấu và giúp vận nước hưng thịnh
Tuy nhiên đối với khu vực đền Hùng mà ông Lan nói ông đã ‘điền dã rất kỹ từ nửa thế kỷ nay’ thì ông chưa sưu tầm được truyền thuyết, lời kể hoặc hiện vật nào ‘chứng tỏ người Tàu đã sang đây để yểm bùa hay triệt phá gì’.
Cho nên ông Lan cho rằng phiến đá trấn yểm đặt trong đền Thượng ‘nên được di dời ra khỏi đền’ vì ‘đấy là thứ mới tạo chứ không phải có từ trước’.
Tiến sỹ Ngô Đức Thịnh, ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, cũng có cùng ý kiến với ông Lan về cách xử lý đối với phiến đá.
“Đó là một hiện vật không nguyên gốc,” ông nói với BBC, “Cầu may thì cũng được thôi nhưng không thể đưa vào một cách tùy tiện.”
“Quan điểm của tôi là nếu như chưa biết rõ hòn đá này là gì và không gắn với đền thờ Vua Hùng thì tốt nhất là nên đưa ra ngoài,” ông nói.
Hiện Ban quản lý đền Hùng đang tính đến sau ngày Quốc giỗ mùng 10/3 Âm lịch sẽ tổ chức hội thảo khoa học để các chuyên gia và các nhà khoa học bàn luận rõ ràng về vấn đề này.
Tuy nhiên, TS Thịnh cho rằng ‘lĩnh vực tâm linh rất mơ hồ khó mà đem ra một hội thảo khoa học’.

14 thg 4, 2013

BỨC THƯ THIÊNG

Mời các bạn đọc lại bức thư của LS Lê Văn Huỳnh đầy cảm động sau, Rất nhiều người đọc xong bức thư đã vỡ òa tiếng nấc không thể kìm nén và rồi họ lại nghĩ về những thứ mà toàn dân tộc đã đổ máu xương, hy sinh cả mạng sống để đổi lấy thì lâu nay đã bị bọn giặc nội xâm (bè lũ tham nhũng, quan liêu) lấy và phá đi hết, Trân trọng kính mời các vị đọc thư:


13 thg 4, 2013

5 lần “phá” CNXH để tồn tại

Nhà thơ Ngô Minh- Blog NM
         
          Nhận xét của NQL: Hi hi bác Ngô Minh tổng kết thật vui. Câu hỏi đặt ra trước Hội nghị TW7 là: Liệu có phá lần thứ 6 hay không? Chắc không. Khó lắm, khó lắm. Lực lượng các đồng chí lú trong đảng còn rất đông.
         
114163-ngo minh            Không ai biết Chủ nghĩa xã hội ( CNXH) là một hình thái xã hội như thế nào. Nó có trong trí tưởng của ai đó hay có ở hành tinh khác. Chỉ nghe thầy giáo chính trị giảng đi giảng lại trong lớp học từ bé lớp một cho đến sinh viên đại học, rằng : Nước ta đang xây dựng CNXH, giai đọn đầu của Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa xã hội là sung sướng gấp vạn lần, dân chủ, tự do gấp vạn lần chủ nghĩa tư bản. Nhưng thực tế ở nước ta ( và nhiều nước CNXH “anh em” khác như Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ) 80 năm qua, càng xây dựng CNXH thì cuộc sống càng đi xuống, bị kềm nén không có tự do báo chí, không có tự do lập hội, thiếu dân chủ.v.v.. Chỉ đi xe chục tiếng sang Thái Lan, thấy đời sống nước họ, tự do dân chủ nước họ mà thèm. Đó là chưa nối đến Hà Lan,Thụy Sĩ, Thủy Điển, Đan Mạch… cuộc sống của họ là thiên đường thực sự . Ở xứ ta, chỉ có giai cấp lãnh đạo Đảng, Chính quyền là ngày càng  giàu sang và quyền lực. Các nước Đông Âu và Liên Xô đã làm một cuộc “cách mạng mềm” lật đổ  CNXH để xây dựng cuộc sống mới. Bốn trăm triệu người ở Liên Xô và Đông Âu được giải phóng, vô cùng  hoan hỷ.  Nước ta  từ  năm 1954 ở miền Bắc và từ  sau năm 1975 trên cả nước, ai cũng nhận thấy càng xây dựng CNXH thì dân càng đói kém, cuộc sống càng bị o ép khổ cực. Đến bây giờ nước ta vẫn được xếp hạng một trong  những nước nghèo nhất thế giới. Nhưng nhân dân ta đã có những cuộc vượt phá chiếc  “vòng kim cô” “ CNXH” để mưu sinh và tôn tại rất ngoạn mục.

1.     Cuộc “lãn công” vĩ đại dưới thời Hợp tác xã.
         Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ở miền Bắc tiến hành Hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo tiểu thủ công nghiệp. Hợp tác xã là Chủ nghĩa xã hội. Lúc đầu bà con háo hức lắm . Nhưng rồi tham nhũng nảy nòi, được thể chế CNXH khuyến khích : Một người làm việc bằng hai / Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe/ Một người làm việc bằng ba / Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân…Đưa ruộng cha ông để lại vào hợp tác rồi, người nông dân không còn ruộng đất canh tác nữa, phải đi làm đồng theo kẻng. Ruộng chung như cha chung không ai khóc, nắng lên khỏi ngọn sào mới lục tục ra đồng, chưa xong đường cày đã giải lao, chiều  mặt trời còn con sào  đã về. Nên cuối vụ chia công điểm, mỗi công được 2 lạng thóc. Dại gì mà làm cho thằng khác ăn.  Thế là đói. Cả xã hội nông thôn  lãm công. Người gần rừng thì đi đào củ mài. Người không có rừng thì đào cua bắt ốc ra chợ đổi gạo. Nên cả miền Bắc nông dân lãn công.
       Lãn công đến độ, bờ xôi ruộng mật cũng chẳng ai ngó ngàng đến. Thấy cảnh dân đói quá, các nhà quản lý buộc phải “phá lệ XHCN”, chia “Đất phần trăm” cho nông dân . Đất  % là đất được xác định 5% quỹ đất của địa phương chia cho các hộ gia đình để sản xuất rau màu,cấy lúa. Những người sinh từ 1962 trở về trước được chia 2 thước ta tức là 48m2/người và được toàn quyền sử dụng. Trên mảnh đất phần trăm đó, các hộ nông dân đã trong khoai cấy lúa nuôi sống gia đình mình, không  cần đến thu nhập của HTX. Đất % tư nhân ấy là cú “phá CNXH” đầu tiên của nông dân Việt Nam.

2.  Khoán hộ Kim Ngọc – cú đấm vào  mặt CNXH
          Có đất phần trăm rồi vẫn nhiều hộ đói, vẫn tiếc ngẩn ngơ hàng triệu hecta đất màu mỡ vào HTX không mang lại thu nhập. Bà con ở Vĩnh Phú,  theo anh Kim Ngọc nghĩ ra cách khoán hộ, để có người chịu trách nhiệm hiệu quả trên tầng thước đất. Khoán Kim Ngọc ra đời. Tổng bí thư đảng kêu lên :” Khoán hộ là  phá CNXH”. Thế là Kim Ngọc bị kiểm điểm. Phá CNXH cũng không chết bằng đói. Thế là phong trào khoán hộ phát triển rầm rộ ở nhiều tỉnh như Hải Phòng, Hải Hưng…Cuối cùng thì Bộ Chính trị buộc phải “phá CNXH” ra nghị quyết “Khoán 10”. Khoán Kim Ngọc như một nắm đấm đấm vỡ mặt Chủ nghĩa xã  hội ảo tưởng.

 3. CNXH : Phân như cứt, cưý gì cũng phân
        CNXH được định nghĩ là “nền kinh tế Kế hoạch hóa từ sản xuất đến tiêu dùng”. Nên kế hoạch sản xuất hàng hóa hàng năm giao cho các nhà máy, xí nghiệp. Sản xuất được bao nhiêu nộp cho nhà nước để nhà nước phân phối theo kế hoạch. Nhưng sản xuất không đủ cung cấp cho nhu cầu ngày càng cao. Nên tất cả các nước đều phải áp dụng chế độ tem phiếu một cách triệt để. Chỉ có lãnh đạo cao cấp là được mua theo nhu cầu, toàn hàng tốt ở của hàng Tông Đản, còn cán bộ, công nhân viên đều có đủ loại tem phiếu, từ mớ củi, bìa đậu phụ, bó rau… đến mét vải màn cho phụ nữ vệ sinh, đều có tem phiếu hoặc sổ mưa hàng . Bắt cởi trần phải cởi trần. Cho may ô mới được phần may ô . Cung cấp  thành nếp sống. Lãnh đạo đẩng tuyên bố : “Kế hoạch hoa tiêu dùng chính là bản chất của CNXH”. Buổi sáng nọ, ở công  Sở Thương Mại tỉnh  nọ có câu đối : Phân thì như cứt. Cứt gì cũng phân. Nhưng đến khi Bộ trưởng thương mại Trần Phương vạch kế hoạch bỏ tem phiếu, TBT kêu lên :”Làm thế thì phá CNXH còn gì ?”. Nhưng dân tộc ta đã “phá CNXH”, từ  bỏ được chế độ tem phiếu để tồn tại. Từ bỏ cảnh cung cấp bao năm trời làm đau khổ chị em: Hôm nay mồng tám tháng ba /  Chị em phụ nữ đi ra đi vào /  Hai tay hai củ xu hào/ Miệng luôn  lẩm bẩm: Nên xào hay kho ?

4.      Tự chủ tài chính – cuộc phá CNXH ngoạn mục
          Sau năm 1975, Bộ Chính trị đảng chỉ đạo tức tốc “cải tạo công thương nghiệp miền Nam, đánh bại bọn tư bản,  nếu không thì không thể xây dựng CNXH được”. Thế là đua nhau đập phá, cải tạo. Các nhà máy, xí nghiệp hiện đại đang vận hành êm ru bỗng chốc tiêu điều. Nguyên liệu không có để  sản xuất, công nhân không có việc làm, không lương. Nhiều giám đốc tư bản rãy chết bị thay bằng “giám đốc học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ra”. Cái trường ấy cũng lạ, ai tốt nghiệp trường đó có thể ra làm bất cứ việc gì, từ bí thư, chủ tịch, đến giám đốc nhà máy dệt, giám đốc công ty điện tử êm ro. Không cần sản  xuất hàng hóa nhiều, chỉ cần  suốt ngày phê bình tự phê bình, đấu tranh giai cấp. Thế là cả một nền kinh tế miền Nam khổng lồ  chỉ vài năm sau thành kiệt quệ. Đói đầu gối phải bò. Anh em công nhân đề xuất chủ trương “tự hạch toán”, “tự chủ tài chính”, “kế hoạch ba”, “xuất khẩu để lấy ngoại tệ mua  vật tư nguyên liệu”… TBT đảng hét :” Bọn bây phá chủ nghĩa xã hội à !”. Không phá thì chết đối cả nút. Thế là cuộc “phá” CNXH lần thư tư diễn ra không thể đảo ngược.

5. CNXH là không được có nhà 2 tầng trở lên
      Qua 4 lần “phá CNXH”, đời sống của nhân dân  khá lên đôi chút. Có người  buôn bán có tiền làm nhà lầu vài ba tầng. Thế mà một lãnh đạo đảng hét lên :” Giàu như rứa là trái với bản chất chủ nghĩa xã hội”. Thế là khoảng tháng 3 năm 1983, chỉ thị Z30, một chỉ thị miệng ra đời, nhằm tịch thu nhà, tài sản của những gia đình có nhà hai tầng trở lên tại các thành phố . Chỉ thị mật, không rõ của Ban Bí thư hay của Chính phủ ra lệnh, không có người ký, không có văn bản, không dựa trên bất kỳ một điều khoản pháp luật hiện hành, chỉ truyền miệng qua hệ thông Công an. Thế mà ở Hà Nội đã tịch thu 105 nhà, không cần tòa án và cũng không có bất cứ một bằng chứng nào để có thể khẳng định đó là tài sản bất minh. Có một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang, bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt. May mà có một số người đã phá cái lệnh CNXH đó.  Nguyễn Văn An bí thư Hà Nam Ninh đã đốt danh sách (khoảng 100 quyết định) do công an tỉnh lập để tiến hành tịch thu, đã được đóng dấu ngay trước đêm định thực hiện trong danh sách 200 gia đình xếp theo ABC. Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh cũng không tuân lệnh “bảo vệ CNXH” ấy.
         
            Đấy, CNXH là rứa đó, nhân dân ta đã bao nhiêu năm điêu đứng, lầm than vì nó, đã 5 lần vùng lên “phá CNXH”, cố thoát ra khỏi cái ách đó, mà không thể thoát được. CNXH lại biến thành cái đuôi đằng sau cái khái niệm : Kinh tế thị trường định hướng XHCN, pháp chế XHCN.v.v.. với kinh tế nhà nước là chủ đạo. Thế là tha hồ cho bọn tham lam hốt tiền ngân sách. Các tập đoán nhà nước đã thất thoát hơn triệu tỷ đồng, bọn bán biệt tự Hà Nội trốn thuế 1.400 tỷ đồng, những Vinashine, Vinaline… mọc lên như nấm. Bây giờ thì CNXH đã lộ nguyên hình là một  hình thái xã hội tham nhũng, ăn cắp. Ăn đất, ăn biển, ăn rừng, ăn dự án, ăn chức, ăn quyền… ăn cả học vị và học hàm giáo sư, tiến sĩ, ĂN CẮP CẢ XƯƠNG MÁU ĐỒNG ĐỘI ĐỂ CÓ DANH HIỆU ANH HÙNG. Đau đớn thay ! Nhưng nhân dân Việt Nam vốn thông  minh và dũng cảm, nhất định sẽ tìm cách  để vứt bỏ chiếc vòng kim cô CNXN vô lý đang thít chặt quanh đầu mình …

Hồ Gươm chiều nay

"Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ... "

11 thg 4, 2013

Trung Quốc là nham hiểm ở mọi thời đại và với tất thảy nhân loại

TQ từng xóa lời chống Mỹ của Bắc Việt

Cập nhật: 09:42 GMT - thứ năm, 11 tháng 4, 2013

Trang Wikileaks lại vừa công bố một loạt điện tín ngoại giao của Hoa Kỳ trong đó có nhiều tài liệu liên quan đến Hoa Kỳ, Trung Quốc và Bắc Việt Nam vào giai đoạn 1973-1976.

Cuộc gặp Mao Trạch Đông và Richard Nixon ở Trung Quốc năm 1972 đã đổi hướng quan hệ Trung - Mỹ
BBC Tiếng Việt trích lược một số phần năm 1973 về quan hệ Trung – Mỹ vốn được thúc đẩy sau chuyến thăm của Tổng thống Richard Nixon sang Trung Quốc năm 1972.
Một bức điện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ghi ngày 29/6/1973 gửi tới sứ bộ của Mỹ tại Bắc Kinh đã xác nhận sự thay đổi trong chính sách của Bắc Kinh với Hà Nội.
Bức điện cũng nói truyền thông Trung Quốc bắt đầu kiểm duyệt các bài báo của Bắc Việt Nam và lược bỏ những đoạn ‘chống Mỹ cứng nhắc' khi đăng lại ở Trung Quốc.
Tuy thế, dù thái độ bên ngoài khác nhau, Hà Nội và Bắc Kinh đã “không khác biệt nhiều trong cách nhìn nhận Nam Việt Nam”, và cùng coi vùng Đông Nam Á sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam mở ra nhiều cơ hội, theo bức điện tín.

Hòa hoãn Mỹ - Trung

Chủ đề của bức điện tín 29/6 và nhiều bức khác trong năm 1973 là nói về giai đoạn hòa hoãn (detente) trong quan hệ Mỹ – Trung.
“Hà Nội có thể phản ứng chống lại sức ép về một thỏa thuận [với miền Nam ] mà Bắc Kinh và Moscow muốn áp đặt lên họ. Nhưng Hà Nội và Bắc Kinh không khác nhau nhiều về chiến thuật với Nam Việt Nam, cho dù về lời lẽ có khác nhau,” bản điện tín 29/6 viết.
Bức điện cũng dự liệu về sự lo ngại lẫn nhau giữa Bắc Việt và Trung Quốc trong tương lai:
“Về lâu dài, Hà Nội và Bắc Kinh rất có khả năng sẽ lo ngại lẫn nhau nếu tình hình Đông Dương còn tiếp tục bất ổn.”
“Cả hai thừa nhận nhu cầu của Bắc Kinh muốn cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ có thể xung đột với quyền lợi của Bắc Việt Nam muốn chiến thắng chung cuộc, và với khả năng Bắc Kinh duy trì ảnh hưởng với Hà Nội”.
Trong một ngôn ngữ ngoại giao tế nhị, bản điện tín ghi nhận rằng người Mỹ tin rằng Bắc Kinh chỉ muốn “hòa bình” bằng mọi giá, hàm ý không muốn cho Bắc Việt Nam chiến thắng.

Tranh cổ động của Trung Quốc ủng hộ 'quân dân Việt Nam chống Mỹ'
“Bắc Kinh nhấn mạnh bằng mọi cách rằng ‘Mọi thứ đều vì hòa bình’ tại Đông Dương đã đạt tới chỗ mà quyền lợi của Bắc Kinh và Hà Nội xem ra tách xa nhau (divergent) một cách nghiêm trọng.”
“Ngay trước khi có thỏa thuận ngưng bắn, các công bố phát biểu chính thức của Bắc Kinh và cả bình luận báo chí đã khác xa với bình luận của Hà Nội.”
“Lời lẽ công kích mạnh người Mỹ hoặc Hoa Kỳ trên báo chí Việt Nam đã bị lược bỏ khi Bắc Kinh truyền tải lại các bài viết của Bắc Việt.”
"Tuy vậy, cũng sẽ nhầm lẫn nếu cho rằng một thứ ‘hòa bình’ bằng cách nào đó là cách Trung Quốc và Bắc Việt Nam chấp nhận để Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục tồn tại."
Và dù khác biệt, hai đồng minh cộng sản cũng chia sẻ quan điểm rằng sự thoái lui của Hoa Kỳ mở ra cho họ các cơ hội tại Đông Nam Á, theo đánh giá của bức điện.
“Dù có căng thẳng rõ rệt giữa Hà Nội và Bắc Kinh, có vẻ như vào thời điểm hiện nay [1973], cả hai đồng ý chung về các đánh giá tình hình Đông Dương và về chuyện cần phải làm gì.
“Có vẻ họ cùng tin rằng sự thoái lui của Hoa Kỳ khỏi Việt Nam sẽ tạo đà cho một loạt xu hướng lịch sử thuận lợi [cho họ] trong khắp cả vùng Đông Nam Á,”
“Cả hai cũng không thấy có nhiều khả năng để chế độ hiện hành tại Sài Gòn có thể tồn tại mãi mãi.”

Vì quyền lợi riêng

Nếu như phía Trung Quốc làm rõ rằng mục đích cao nhất của họ khi đề cập tới Đông Dương là để cải thiện quan hệ chiến lược với Mỹ, phía Bắc Việt Nam cũng vẫn cần Trung Quốc viện trợ và đã chỉnh sửa cách nói của mình về cuộc chiến.
Bản điện tín viết:
"Sau chuyến thăm của Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, Bắc Kinh cam kết viện trợ với số lượng không rõ là bao nhiêu nhưng có thể là ít hơn trước"
Điện tín ngoại giao Hoa Kỳ
“Trong khi không bỏ mục tiêu chiếm miền Nam, Hà Nội như cũng sửa lịch trình đó khá nhiều, nhấn mạnh tới các hoạt động chính trị thay vì các hành động quân sự một cách đầy kịch tính,”
"Hà Nội cũng muốn Trung Quốc viện trợ tiếp tục, và sau chuyến thăm của Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, Bắc Kinh cam kết viện trợ với số lượng không rõ là bao nhiêu nhưng có thể là ít hơn trước.”
Bản điện tín cũng ghi rằng dù có thay đổi về ngôn từ, không có bằng chứng là Bộ Chính trị tại Hà Nội bỏ chiến lược quân sự với miền Nam.
Điều giới ngoại giao Hoa Kỳ ghi nhận ngay từ giữa năm 1973, gần hai năm trước khi Sài Gòn sụp đổ là “sự tự tin của Hà Nội”.
Tài liệu này tiết lộ một thái độ ngạc nhiên, thậm chí nể phục của giới ngoại giao Hoa Kỳ khi viết về Bắc Việt, kể cả khi đồng minh Trung Quốc có thể không tin vào điều Hà Nội tin tưởng:
“Người Bắc Việt Nam thật sự tự tin rằng chiến lược của họ sẽ đem lại thắng lợi cuối cùng. Thật khó mà tin rằng Bắc Kinh cũng ‘mua trọn gói’ toàn bộ các mặt của cách phân tích, nhận định tình hình như thế hay chấp nhận mọi góc độ của chiến lược đó.”
Trong các bản điện tín khác, phía Hoa Kỳ có vẻ như nhìn nhận rằng Trung Quốc sau các tính toán trên đã có động thái riêng thể hiện trong vụ chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974.
Cùng lúc, Trung Quốc vẫn muốn giữ quan hệ tốt với Bắc Việt Nam, thậm chí còn tìm cách mô tả ‘chiến thắng Tây Sa’ (Paracels) như một ‘thắng lợi chung của nhân dân Trung – Việt’ chống lại Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, theo một bản điện tín khác của Hoa Kỳ ngày 19/03/1974.
BBC sẽ tiếp tục khai thác các nội dung từ điện tín ngoại giao của Hoa Kỳ liên quan đến chủ đề chính trị khu vực Đông Nam Á trong các bài tới. Mời quý vị xem lại chuyên đề Bấm Hòa đàm Paris 1973.

Dặn con

Mafiovi
10:02 Ngày 11 tháng 4 năm 2013

Ta để lại vài cánh rừng dập nát
chẳng đủ đâu con, ngăn nứơc lũ đổ về
hãy cố gắng mà dựng lều cao nữa
phòng khi đêm về, mưa đổ xuống, con nghe

Ta để lại những dòng sông đặc quánh
chẳng phải phù sa! chất độc: đỏ, xanh, vàng
muôn loài cá chỉ còn trong tủ sách
chớ đến gần sông để phải chết vội vàng

Ta để lại món nợ người tứ xứ
Vài chục tỷ đô, đã đến hạn lâu rồi
Than đã hết, mỏ dầu cũng hết
cố chắt chiu mà trả hết con ơi!

Ta để lại dăm mảnh vườn cằn cỗi
sức đất hết rồi, gieo chi được nữa đây?
cố mà bới, mà đào, mà cấy
may ra các con đủ thoi thóp qua ngày

Ta để lại , và cuối cùng để lại
Cho các con: thói ăn cướp của Đồng bào
Thói kiêu ngạo & tâm hồn rỗng tuếch
Như rừng núi của Ông Bà
Ta phá trụi
Con ơi!

Ngang tàng
BÙI VĂN BỒNG
Thứ năm, ngày 11 tháng tư năm 2013

      Không yêu mà bảo rằng yêu
Ngang tàng đem thả cánh diều ngọn tre
      Nghe rồi lại bảo không nghe
Ngang tàng đòi nhốt tiếng ve nồi đồng
      Chơi ngông lại bảo không ngông
Ngang tàng đổ đá lấn sông xây nhà

      Ngang tàng khoe mẽ trăng hoa
Nụ hôn rao bán bày ra lề đường
      Ngang tàng tưởng được yêu thương
Nhọ nhem mặt mũi soi gương vẫn cười
      Ngang tàng nhậu nhẹt ăn chơi
Ao nhà cứ tưởng bể bơi trước đình

      Tối ngày tất bật mưu sinh
Ngang tàng khoái nổ rằng mình giàu sang
      Trên đời làm kẻ lang thang
Ngang tàng: “Nghề nghiệp giỏi giang tuyệt vời”!
      Lo toan lòng dạ rối bời
Ngang tàng lại nói rằng tôi an nhàn

      Lạ cho ở giữa nhân gian
Kẻ ngang tàng coi ngang tàng là khôn
      Người ngay ngán ngại chui luồn
Kẻ chui luồn thích đi buôn ngang tàng
       Vét cho đầy chật túi tham
Ngang tàng lại nói "chẳng màng của công”

      Đem tiền Nhà nước đổ sông
Ngang tàng vỗ ngực hết lòng vì dân
      Ăn tiêu hoang phí nợ nần
Ngang tàng hô hoán phải cần kiệm thôi
      Mang danh cống hiến cho đời
Mà ông tham nhũng ăn chơi ngang tàng

     Công minh pháp luật rõ ràng
Ngang tàng xử nhẹ quan tham mập mờ
     Người dân oan ức ngẩn ngơ
Ngang tàng xử nặng bất ngờ, kêu ai
     Ngang tàng nói: "Chẳng oan sai"!
Miệng ngang tàng đến mang tai, cười xòa....

     Ngang tàng ngồi ghé quan tòa:
"Pháp đình là chỗ quan ta  ... ngang tàng" !

Tân ca dao
Nặc danh11:56 Ngày 11 tháng 4 năm 2013

Thương + Hiền nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc cướp ngày là …Ủy ban
Chính quyền một lũ tham Quan
Anh An Anh Đội một đoàn kéo lên
Hung hăng ầm ĩ súng, kèn
Cướp đất, bắt bớ một phen tơi bời
May chưa cụt cẳng đầu rơi
Nhà tan, chồng tội đã đời khổ chưa!
Thế lực có chức có quyền
Nông dân cần mẫn phải hèn nhớ chưa?
Đảng ta so với phép vua
Ai mà chống lại te tua có ngày
Em ơi nhớ lấy câu này…..
xxx
Tư Sang biết có nhiều Sâu
Mấy Bác cũng bị đau đầu khổ thay!
Sâu ơi ta bảo Sâu này
Sâu cướp lắm của có ngày hóa ma!
Dân lành Sâu cũng chẳng tha
Sâu đem máy xúc ủi nhà lương dân
Nông dân đức nghiệp chuyên cần
Sao Sâu thất đức, bất nhân thế này!
xxx
Bao giờ Công Lý biết oan
Bọn lợi ích nhóm, tham quan tồng ngồng
Nói ra ai chẳng đau lòng,
Toàn dân thấy nhục, vợ chồng thở than.
Cả họ Đoàn bầm gan tím ruột
Phải dằn lòng, đau quá không kêu.
Vì công lý anh Vươn liều
Lòng dân ngao ngán những điều trớ trêu.
Bác Hồ ơi Bác dạy nhiều
Nay Thạch Sanh ít, rất nhiều Lý Thông

VƯỜN PHÓ ĐOAN