2 thg 6, 2012
Phong Cảnh Hà Nội
Quốc mời các bạn tham quan bãi sông Hồng, vùng Tứ Liên - Hà Nội: những bức ảnh Quốc chụp vào dịp tết năm 2007.
Việt Nam vô địch
Ai yếu bóng vía đừng xem entry này dù nó được đăng lên để
chào mừng... ngày 1/6/ tết của thiếu nhi/ mẹ đưa em đi/ ra hàng mậu dịch/ ô tô
bình bịch/ có cả vịt bơi/ này các bạn ơi/ ta cùng chơi nhé... Hình như đã có
một bài thơ như thế trong sách giáo khoa về ngày có vẻ... trọng đại này...
CHOÁNG VỚI NHỮNG CÁI NHẤT CỦA VIỆT NAM (P2)
Việt Nam
trong mắt bạn bè quốc tế là nơi tập hợp những cái "nhất" thế giới.
Việt Nam
được coi là thiên đường ẩm thực châu Á, thành phố Hồ Chí Minh là một trong
thanh phố có ẩm thực đường phố ngon nhất thế giới. Theo các tạp chí và báo nước
ngoài, thịt chuột, tiết canh lòng lợn, mì dế rán và trứng vịt lộn của Việt Nam
luôn là một trong số các món ăn được cho là kinh dị nhất trên thế giới.
Nhiều người tỏ ra e dè, ngần ngại không dám thưởng thức
khi trông thấy vịt con đã thành hình đủ lông đủ cánh trong
quả trứng.
Nhiều du khách nước ngoài còn rất sợ món thịt chó và mắm
tôm. Họ không thể hiểu tại sao người Việt lại “làm thịt” con vật nuôi trong
nhà. Tuy nhiên, đây lại được coi là món ăn "truyền thống", rất hấp
dẫn, đặc biệt là đối với dân nhậu.
Người Việt có thói quen mua vàng dự trữ.
Trong năm 2011, Việt Nam cũng xuất khẩu khoảng 35 - 38
tấn vàng.
Lạm phát chung của Việt Nam ở nhóm 4 nước cao nhất thế
giới, trong khi năm 2010 đứng thứ 17/182 nước. Theo ADB, lạm phát ở châu Á năm
2011 ở khoảng 3-6%. Trong đó, Việt Nam ghi nhận mức lạm phát cao nhất
trong khu vực với 20,8%. Ảnh: Giá các mặt hàng tăng mạnh những năm qua.
Chỉ xếp sau Trung Quốc và Mexico,
các doanh nhân và chủ doanh nghiệp Việt Nam được xếp vào diện bị stress
(căng thẳng) nhất thế giới trong năm 2009. 72% doanh nhân Việt Nam
được hỏi đã cho rằng họ rất căng thẳng bởi nhiều sức ép trong môi trường kinh
doanh. Họ chỉ có 1 tuần/năm dành cho nghỉ ngơi, du lịch, trong khi các doanh
nhân vùng Bắc Âu có tới 3 tuần/năm. Ảnh: Các doanh nhân Việt Nam.
Với mức tiêu thụ 2,7 tỷ lít bia trong năm 2010, khoảng 24
lít trên/đầu người/năm, bằng 1/10 so với châu Âu, Việt Nam đã trở thành nước thứ ba có sản
lượng tiêu thụ bia cao nhất châu Á, sau Nhật và Trung Quốc. Trong đó 4 thành
phố Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng năm nay dự báo tiêu thụ 300 triệu lít với
tổng trị giá 7.250 tỷ đồng.
Việt Nam
hiện có 350 cơ sở sản xuất bia phục vụ thị trường 87 triệu dân. Việt Nam
được dự báo sẽ trở thành thị trường tiêu thụ bia lớn nhất thế giới của hãng bia
Heineken.
Sau 10 năm, tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5
tuổi cũng đã giảm 14% (xuống còn 29,3%) năm 2010 nhưng Việt Nam vẫn nằm trong
số 36 quốc gia có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi trên phạm vi toàn cầu.
Việt Nam
thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới. Trong vòng 12 năm
qua (từ 1998 - 2010), Nhà nước tăng dần đầu tư GD-ĐT từ mức hơn 13% lên 20%
tổng chi ngân sách nhà nước. Đến nay đã có khoảng 1,6 triệu HS, SV có hoàn cảnh
khó khăn được vay vốn với số tiền 18.000 tỷ đồng. 53% số học sinh, sinh viên
được miễn giảm học phí.
Tuy vậy tỷ lệ thi trượt đại học ở Việt Nam lại cao nhất thế giới. Hơn thế,
là quốc gia nghèo và trình độ dân trí thấp, nhưng hằng năm Việt Nam có
hàng ngàn sinh viên đi… du học.
nhận xét:
tuanha nói...
Mấy món nhất đó chắc Bác cũng là chuyên gia
ấy nhỉ.
VN mình cũng có lẽ là quốc gia có người đi
học mà không biết viết cao nhất thế giới
10:50 Ngày 01 tháng 6 năm 2012
Theo blog Văn Công
Hùng
1 thg 6, 2012
Trích bài: TS.Lê Đăng Doanh: ...
Trích
bài: TS.Lê Đăng Doanh: "Tư lệnh ngành" Đinh La Thăng nên trả lời công
luận
Báo
Giáo dục Việt Nam
- 1 tuần trước 17641 lượt xem 1 tin đăng lại
| Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh |
...Chuyên
gia Lê Đăng Doanh (người có công lớn để Mở cửa lần 1) nói tiếp: “Những sai phạm
của Vinalines diễn ra trong một thời gian dài. Nếu chúng ta có những giám sát
chặt chẽ thì đã không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như hiện nay. Cũng cần
phải đặt ra câu hỏi đối với cơ quan quản lý là Bộ GTVT là tại sao Bộ quản lý mà
để sai phạm kéo dài như vậy và kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ Chủ tịch HĐTV và Tổng
giám đốc chứ có phải một nhiệm kỳ đâu?
Vì
vậy cần phải xem xét trách nhiệm của các cơ quan quản lý liên quan trong vụ
Vinalines. Các cơ quan có liên quan ở đây là Bộ GTVT, Bộ Tài chính chịu trách
nhiệm về chủ sở hữu, về việc bổ nhiệm nhân sự. Tại sao ông Dương Chí Dũng có
sai phạm và đang trong quá trình thanh tra như vậy lại được bổ nhiệm vào một vị
trí quan trọng như vậy?
| Cần phải xem xét trách nhiệm của các cơ quan quản lý liên quan trong vụ Vinalines. |
Một
vấn đề nữa là tại sao ông Dương Chí Dũng biết trước để mà trốn trong khi những
ngày trước đó còn đi làm việc bình thường. Đó là việc hết sức không bình
thường. Phải chăng có lỗ hổng ở đâu đó? Hành vi của ông ấy (ông Dương Chí Dũng
– PV) hoàn toàn là hành vi của một tên tội phạm nguy hiểm chứ một người cán bộ
bình thường khi có sai phạm thì nghiêm chỉnh chịu trách nhiệm trước nhân dân?
Vụ này phải xem xét trách nhiệm như thế nào vì tiền không thất thoát đi đâu cả
mà nó vào túi của một số người nào đó”.
Vua Hàm Nghi: giữ cốt cách Việt nơi lưu đày.
Từ đầu năm 2008, Nhà nước, chính quyền tỉnh Thừa Thiên -
Huế và cộng đồng Nguyễn Phước tộc (trong và ngoài nước) đã có những
động thái tích cực để đưa di hài vua Hàm Nghi về Huế. Vị vua yêu nước,
mang tinh thần dân tộc quật cường đang sắp sửa về lại cố hương sau 120
năm biệt xứ chốn lưu đày.
Cuộc nổi dậy kháng Pháp bất thành, kinh đô Huế bị thất thủ ngày 23-5 năm Ất Dậu (1885). Vua Hàm Nghi theo phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết chạy ra Tân Sở và ban chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu và toàn thể dân chúng nổi dậy chống Pháp.
Nhưng thái độ bất hợp tác của vua tỏ rõ ngay từ đầu. Thời gian khởi
nghĩa nhà vua thường nói rằng mình thà chết trong rừng hơn là trở về
làm vua mà bị người Pháp kiềm tỏa. Ngay trước thời điểm lên tàu đi xa,
có cơ hội về thăm gia đình, thăm người mẹ đang đau nặng, nhưng nhà vua
cự tuyệt: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ chi đến cha mẹ,
anh chị em nữa!”. Trong mười tháng đầu ở đất khách quê người, vua rất
ít tiếp xúc với người khác, không chịu học tiếng Pháp - tiếng của dân
tộc đã cướp nước mình, mọi việc đều phải qua phiên dịch của Trần Đình
Thanh - viên thông ngôn được người Pháp cử theo.
Cuộc nổi dậy kháng Pháp bất thành, kinh đô Huế bị thất thủ ngày 23-5 năm Ất Dậu (1885). Vua Hàm Nghi theo phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết chạy ra Tân Sở và ban chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu và toàn thể dân chúng nổi dậy chống Pháp.
Ba năm cầm đầu ngọn cờ của toàn dân tộc đấu tranh
kháng Pháp, công cuộc chưa thành thì cuối năm 1888 vua Hàm Nghi bị tên
tội thần phản chủ Trần Quang Ngọc bắt nộp cho Pháp. Không thể mua chuộc
được ông vua trẻ lúc ấy chỉ mới 18 tuổi, thực dân Pháp đã đưa vua
xuống tàu La Comète vào Sài Gòn, rồi đưa qua tàu Biên Hòa, lưu đày biệt
xứ sang Algeria. Trước đó, thực dân Pháp đã yêu cầu viên toàn quyền
Algeria đối xử tử tế với toan tính có thể đưa Hàm Nghi trở lại ngai
vàng một lần nữa...
Ngày 13-1-1889, tàu Biên Hòa cập bến thủ đô Alger của
Algeria. Tại đây, nhà vua được chính quyền tiếp đón đàng hoàng và được
nhiều học sinh người Việt tìm đến viếng chào. Nhà vua được cấp Villa
des Pins (biệt thự Hiên Tùng) sang trọng, nằm gần Alger. Ông cũng được
viên toàn quyền Pháp tại Algeria là Tirman tiếp kiến và mời cơm thân
mật tại gia đình.
Không chịu khuất phục
Vua Hàm Nghi tại Algeria
Người dân Alger thì quen gọi vua Hàm Nghi với cái tên
thân thiện là “ông hoàng An Nam” (Prince d'Annam), bởi nhà vua luôn nói
tiếng Việt, đầu búi tó, đội khăn vành, vận áo dài đen, quần trắng, ăn
các món ăn của người Việt do người Việt nấu... Theo nhà nghiên cứu
Nguyễn Đắc Xuân: “Về sau khi tiếp xúc với nhiều người, gặp nhiều người
Pháp tốt, nhà vua nhận ra không phải người Pháp nào cũng là kẻ thù và
ông mới chịu theo học tiếng Pháp đến mức thông thạo”. Nhà vua cũng
thường vẽ tranh, chụp ảnh như là những thú vui tao nhã trong đời sống
của mình.
Khi đã tiếp cận, học hỏi nhiều điều từ văn hóa, văn
minh Pháp, có người ca ngợi lịch sử nước Pháp trước mặt ông, nhà vua
không bàn cãi mà chỉ đáp lời: “Lịch sử nước Pháp rất hấp dẫn tôi nhưng
lịch sử nước tôi cũng hấp dẫn tôi không kém!”...
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân kết luận: “Vua Hàm Nghi
giao du quen thuộc với nhiều trí thức nói tiếng Pháp; nhiều quan chức
cao cấp của Pháp rất trọng nể tinh thần yêu nước và phong cách sống
phương Đông của ông”. Ông Tôn Thất Hanh, nguyên chủ tịch hội đồng
Nguyễn Phước tộc, nói: “Vua Hàm Nghi là biểu tượng của sự chống đối đối
với thực dân Pháp từ trẻ đến già, với cái tâm thật trong sáng!”.
Tác giả Bửu Diên - Hoàng Oanh, trong đặc san tưởng
niệm Ba vị hoàng đế cách mạng Hàm Nghi - Thành Thái - Duy Tân do hội
đồng hoàng tộc Nguyễn Phước hải ngoại ấn hành năm 2004, nhận xét: “Cuộc
đời sóng gió, lòng yêu nước và đức độ của vua Hàm Nghi đã cảm hóa được
nhiều người bạn ngoại quốc”, thông qua nhắc lại tường thuật của cô
Blanche - con gái vị đại tá tư lệnh Alger thời bấy giờ đã viết về vua
Hàm Nghi: “Nếu Người bằng lòng trở lại ngôi báu thì người Pháp chúng tôi
rất vui mừng vì Người đã được dân chúng và sĩ phu sùng bái. Lòng yêu
tổ quốc, yêu quê hương, yêu đồng bào của Người lớn hơn cả chiếc ngai
vàng. Tôi yêu mến tổ quốc của tôi nên tôi rất quí trọng những người yêu
tổ quốc của họ!”.
Một gia đình Việt giữa xứ người
Theo nghiên cứu của ông Nguyễn Đắc Xuân, vào đầu thế
kỷ 20, thông qua một người Pháp, vua Hàm Nghi viết thư về Huế yêu cầu
gửi hai người cháu là Bửu Thùy và Bửu Phong, con của công tử Ưng Uyển,
anh cùng cha khác mẹ với mình, sang Alger ở cùng.
Vợ ông Ưng Uyển, là con gái của đại thần Nguyễn Hữu
Độ, không đồng ý. Đến năm 1904, khi đã 33 tuổi, vua cưới vợ là cô
Marcelle Laloe, con gái ngài luật sư chánh án tòa thượng thẩm Alger.
Ngài Laloe góa vợ, có một con gái duy nhất, là người rất được trọng
vọng đối với dân bản xứ, có lẽ thông cảm với hoàn cảnh của vị vua nước
Nam đang lưu vong nên đã gả con gái cho.
Ngày cưới, vua Hàm Nghi vẫn phục sức kiểu Việt với áo
dài, khăn đóng, búi tóc cổ truyền, đi trên chiếc xe song mã rước vị hôn
thê đến nhà thờ làm lễ. Những bức ảnh tư liệu cho thấy hàng nghìn
người đã theo dõi lễ cưới của vị vua An Nam, và đây trở thành một sự
kiện văn hóa của người dân trong vùng. Vợ theo Thiên Chúa giáo, vua Hàm
Nghi tuy không theo đạo nhưng rất tôn trọng vợ, thỉnh thoảng có đến
nhà thờ, và hai người sống với nhau rất hạnh phúc cho đến cuối đời. Nhà
vua có ba người con, con đầu lòng là hoàng nữ Như Mai sinh năm 1905,
năm 1908 có thêm cô con gái kế là Như Lý và đến năm 1910 sinh con trai
út Minh Đức.
Ý thức về sự đày ải suốt cuộc đời, biệt thự Hiên Tùng
được vua đổi tên thành biệt thự Gia Long, trong đó xây một cổ lâu theo
kiểu kiến trúc Việt truyền thống, biến thành nơi để thờ phụng, tế tự
dòng tộc nhà Nguyễn. Ông thường bảo: “Các con chưa thể được làm người
dân Việt Nam tốt thì hãy là những người Pháp tốt”.
Cách sống và cách dạy con dựa trên tinh thần Việt của
nhà vua đã tác động tích cực nên các con ông đều trở thành người rất có
tư cách. Con gái đầu Như Mai năm 1925 đã đỗ đầu kỹ sư nông học tại
Trường canh nông Quốc gia Grignon, là người phụ nữ đầu tiên đỗ đầu
trường này.
Bà không lập gia đình mà đem tri thức giúp dân nghèo
cải tạo nông nghiệp tỉnh Dordogne, biến vùng đất nghèo trở nên giàu có.
“Bà chúa nước Nam” theo cách gọi của dân địa phương đã dựng được một
lâu đài lớn tại làng Thonac, về sau biến một phần đất trở thành nghĩa
trang gia đình, nơi đặt di hài vua Hàm Nghi hiện nay.
Người con gái kế Như Lý đang học đại học ngành dược đã
bỏ học đi lấy chồng là một nhà quí tộc thành công trong nghề nông,
sinh được ba người con, hiện đang sinh sống tại Pháp. Phần hoàng thân
Minh Đức, cũng như bao nhiêu thanh niên Pháp, phải đi lính trong Thế
chiến thứ 2. Theo tác giả Nguyễn Xuân Thọ, sau thế chiến hoàng thân ở
trong quân đội Pháp với cấp thiếu tá.
Sau khi Đức thua trận, ông được lệnh đưa đi Việt Nam
trong hàng ngũ quân Pháp, nhưng ông thẳng thừng từ chối. Ông Jean De
Latour Dejean - một đại sứ làm việc cho Bộ Ngoại giao Pháp, từng là sĩ
quan, bạn thân và là đồng đội với ông Minh Đức lúc ấy - kể câu chuyện
hoàng thân tuyên bố với Chính phủ Pháp rằng ông không thể cầm súng bắn
lại đồng bào ông. Nếu Chính phủ Pháp muốn đưa ông ra tòa án binh thì cứ
đưa. Ông không chịu đi qua Việt Nam để đánh giặc cho Pháp, chống lại
Việt Nam.
Đã gần ngày về với quê nhà
Nhiều sử liệu cho rằng vua Hàm Nghi mất vào ngày
4-1-1943; tuy nhiên ông Nguyễn Đắc Xuân dẫn theo lời bà Như Lý cho rằng
vua mất vào ngày 14-1-1944, tại biệt thự Gia Long và an táng ngay tại
đây. Đến năm 1962, khi Algeria độc lập thì biệt thự Gia Long được trả
về cho Algeria và ba năm sau di hài nhà vua được chuyển về cải táng ở
khu lăng mộ tại làng Thonac, trong khu vực lâu đài của trưởng nữ Như
Mai ở tỉnh Dordogne.
Ông Xuân cho biết khu lăng mộ hiện có năm hài cốt gồm:
vua Hàm Nghi, bà Marcelle Laloe - vợ vua (mất năm 1974), bà quản gia
(mất 1941), ông Minh Đức (mất 1990) và bà Như Mai (mất 2000). Theo ông
Xuân, nếu đưa về Huế nên thiết kế một khu lăng mộ riêng cho phong trào
Cần Vương và cải táng vua Hàm Nghi và gia đình, cùng việc bố trí các
chí sĩ trong phong trào Cần Vương như: Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Thiệp,
Tôn Thất Đạm... để vừa trở thành điểm tưởng niệm, tham quan học hỏi...
Đến nay tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bước đầu thống nhất
phương án chọn địa điểm đặt nơi yên nghỉ vĩnh hằng cho vua Hàm Nghi tại
vùng đồi Thủy Xuân - TP Huế. Đó là một khu đất nằm kề các khu lăng
những người thân của vua gồm lăng người cha Kiên Thái vương và hai vua
anh là Đồng Khánh và Kiến Phúc (nằm trong khu vực lăng Tự Đức)...
THÁI LỘC - báo TTCT
Thư cám ơn
Cám ơn Văn Quốc đã dày công
Mằn mò sớm tối thật hết lòng
Đăng ký cả tên cho bè bạn
Nghĩa tình sâu nặng rộng mênh mông
Bạn bè trang lứa quan tâm nhau
Tình nghĩa mặn nồng cả trước sau
Cho dù thầm lặng hay sôi nổi
Tôi đánh giá cao chữ TÂM đầu
17h43
01.6.2012
HT
Tếu táo hàn huyên để test xem ntn
Tiền
Chữ
Tiền cùng với chữ Tiên
Khác
nhau chỉ một dấu huyền mà thôi
Nhưng
Tiên ở tận trên Trời
Con
Tiền thì ở dưới đời trần gian
Kè
kè bị bạc vai mang
Tha
hồ nói ngửa nói ngang mặc mình
“Thơm
lừng” những tấm Đô xanh
Đồng
tiền có lúc hôi tanh không lầm
Chữ
Tiền thắng cả chữ Tâm
Đem
tiền đấm mõm là câm tịt mồm
Tiền
mua được cả linh hồn
Đồng
tiền biến dại thành khôn ngất trời
Tiền,
gây máu đổ xương rơi
Mua
sông bán núi: tiền ơi là tiền
Tiền
gây thất đảo bát điên
Ba
chân dù vững như kiềng vẫn xiêu
Không
tiền thì lại túng tiêu
Lắm
tiền thì lại lắm điều lăng nhăng
Nhắn
lên Tiên giới biết rằng
Dưới trần gian có khối thằng mua Tiên
Dưới trần gian có khối thằng mua Tiên
Bởi
vi chúng có đồng tiền
Nên/
hư: tiền, tựa ruột liền với thân
HT St
Khai sáng dân trí - lối thoát cho phong trào dân chủ Việt Nam ?
|
Hoàng Sư Phụ,
Fukuzawa Yukichi đã nói:
“Cái hồn của một nước nào thì y phụ vào dân nước ấy. Cái hồn của dân tộc nước
ấy lại y phụ vào thanh niên học sinh, ấy là linh hồn của nước dân vậy”.
Ai ai cũng ích kỷ cá nhân như vậy thật đáng trách, không
hiểu dân tộc Việt sẽ đi về đâu?
Nhìn lại bấy lâu nay, thanh
niên học sinh trong nước ta trình độ ngày càng thụt lùi so với thế giới, há
chẳng phải điều đáng lo cho quốc gia sao? Đặc biệt hơn là khi nói đến chuyện
chính trị, hưng vong của đất nước mà sao lắm bạn trẻ cho là chuyện rỗi hơi,
không cần quan tâm. Ai ai cũng ích kỷ cá nhân như vậy thật đáng trách, không
hiểu dân tộc Việt sẽ đi về đâu?
Là những chí sĩ yêu nước, tự
ta cảm thấy nỗi nhục dày vò về sự tụt hậu của đất nước. Vậy chúng ta phải làm
gì để có thể thúc đẩy đất nước tiến đến văn minh phương Tây. Không còn đường
nào khác là phải truyền bá, học hỏi các tư tưởng tiến bộ của các nước phương
Tây mà nhiều lần chúng ta lỡ nhịp rồi.
Vấn đề tiếp thu tri thức
nhân loại tại Việt Nam
1. Trong quá trình hiện đại
hoá, mở cửa và đi theo con đường chung của nhân loại, điều then chốt là tiếp
thu và học hỏi những tri thức của thế giới. Chúng ta không thể phát triển nếu
không học những bài học kinh nghiệm và sử dụng những thành tựu trong quá trình
phát triển của các quốc gia tiên tiến khác. Để từ đó, trên nền tảng văn hoá,
bản sắc, lịch sử đặc trưng của Việt Nam tìm ra mô hình và bài học phù
hợp cho sự phát triển của mình.
Hiện nay, một điểm yếu của
việc nghiên cứu là thiếu những cuốn sách và tri thức nền tảng của thế giới, đặc
biệt là về khoa học xã hội. Ngay cả các giáo viên và sinh viên ngành xã hội
cũng không đủ điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu này. Sách vừa thiếu, ngoại ngữ
kém…và ngay cả các sinh viên và nhà nghiên cứu giỏi cũng không dễ dàng tiếp cận
được.
Nhật Bản bắt đầu công cuộc
canh tân đất nước với công cuộc Minh Trị Duy Tân (1868) bằng cách tích cực học
hỏi và tiếp thu những đặc điểm tiên tiến của văn minh Tây Phương. Trí thức Nhật
Bản hiểu rằng muốn vượt Tây Phương thì trước hết phải khám phá để học lấy những
bí quyết sở trường của Tây Phương không chỉ đơn thuần bằng việc mua súng đạn
hay tàu chiến mà phải thấy được đâu là những "sở trường và bí quyết"
của văn minh Tây phương. Họ cho rằng sách vở và những chuyến hành trình để
"thám sát" các nước Tây Phương là cách tối ưu nhất để thu được kinh
nghiệm và các bài học cần thiết để đạt được mục tiêu hiện đại hoá nước Nhật. Vì
thế, việc tiếp thu văn hóa Tây phương được chính phủ Minh Trị đặt làm ưu tiên
hàng đầu. Trong giai đoạn này, các dịch giả, điển hình là Fukuzawa Yukichi là
những người đầu tàu trong việc truyền bá kiến thức và những tư tưởng tiên tiến
của Tây Phương ở Nhật thông qua việc dịch và xuất bản rất nhiều sách vở của
phương Tây để học lấy những tư tưởng cốt lõi phục vụ cho công cuộc cải cách.
Tôi kinh ngạc khi nhận thấy nhiều tác phẩm lớn của phương
Tây đã được dịch ra tiếng Nhật từ rất sớm
Tôi kinh ngạc khi nhận thấy
nhiều tác phẩm lớn của phương Tây đã được dịch ra tiếng Nhật từ rất sớm, vào
nửa đầu thời Minh Trị (giai đoạn 1870-1885) như History of Civilization in
England của Henry Buckle; The Theory of Legislation - Principles of the Civil
Code của Bentham; On Liberty, Political Economy, Representative Government,
Utilitarianism của J.S. Mill; Social Statics của Herbert Spencer; De l'esprit
des lois của Montesquieu; Du contrat social của Rousseau.
Sau thất bại trong cuộc
chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895), Trung Quốc cũng tiến hành một chương trình
tương tự. Những sĩ phu Trung Quốc có đầu óc cải lương với các lãnh tụ như Khang
Hữu Vi và Lương Khải Siêu chủ trương rằng Trung Quốc cần thực hiện công cuộc
canh tân theo gương Nhật Bản. Hàng ngàn sinh viên Trung Quốc đã sang Nhật du
học và vô số sách báo tiếng Nhật đã được dịch sang chữ Hán. Đỉnh cao của việc
dịch thuật các tác phẩm này diễn ra trong khoảng thời gian từ 1902 đến 1907,
khi mỗi năm trung bình có hơn 50 cuốn sách dịch được xuất bản và năm 1903 đạt
kỷ lục với 200 cuốn. Ngay trong thời gian này, chứ không phải chờ đến khi Đảng
Cộng sản Trung quốc lên cầm quyền, tác phẩm Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản của Marx
và Engels đã được dịch cho người Trung quốc. Như Lương Khải Siêu nói, "Các
tư tưởng mới lan tràn như đám cháy" và những tư tưởng mới được truyền tải
thông qua sách dịch đó đã góp phần mang lại cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung
Quốc.
![]()
Cũng thông qua Tân Thư, các
sĩ phu Việt Nam ở đầu thế kỷ 20 đã lĩnh hội được tư tưởng mới, điển hình là
Phan Châu Trinh, Thân Trọng Huề, Ðào Nguyên Phổ. Nhìn lại Nguyễn Trường Tộ là
nhà canh tân nổi tiếng của Việt Nam nhưng không thành công và khi đọc niên biểu
và những hoạt động mà Nguyễn Trường Tộ thực hiện, tôi nhận thấy dù các kiến
nghị ông viết rất nhiều và chính xác, nhưng ông không triển khai được các hoạt
động kèm theo mà Fukuzawa đã làm, đó là dịch thuật và mở trường dạy học…để đào
tạo ra một thế hệ mới. Cách tiếp cận của Nguyễn Trường Tộ là thuyết phục giới
quan lại, nhà vua và triều đình; còn Fukuzawa Yukichi chọn cách xây dựng một tầng
lớp mới, tạo dựng tinh thần mới cho cả dân tộc. Nhờ đó, Fukuzawa Yukichi đã
thành công.
2 Trong lời Phát Đoan của bộ
Nho Giáo, Trần Trọng Kim viết “Xét ra cho kỹ, sự bỏ cũ thay mới của ta hiện
thời bây giờ không phải là không cấp bách, nhưng vì người mình nghĩ nông nổi,
không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại cả đi. Thành thử cái xấu, cái
dở của mình thì vị tất đã bỏ đi được mà lại làm hỏng mất đi cái phần tinh tuý
đã giữ cho xã hội ta bền vững hàng mấy nghìn năm”.
Có lắm người tưởng rằng mình
bắt chước người ngoài là điều có ích cho sự tiến hoá của nòi giống mình. Không
ngờ rằng, sự bắt chước vội vàng quá, không nghĩ cho chín, lại thành cái độc,
gây ra thứ bệnh cho xã hội mình…Mỗi dân tộc có một cái tinh thần riêng, cũng
như mỗi cây có cội rễ đâm xâu xa xuống đất. Hễ cây nào tốt, hút được nhiều khí
chất thì cành lá rườm rà. Dân tộc nào cường thịnh là người đã biết lưu giữ cái
tinh thần của mình được tươi tốt luôn.”
Cho đến nay, 100 năm sau khi
Trần Trọng Kim viết Việt Nam Sử lược, tính cách của người Việt Nam vẫn không hề
thay đổi.
3. Trong cuốn Tâm lý đám
đông, Le Bon viết “Một dân tộc là một cơ thể sống được sinh thành bởi quá khứ
nên cũng giống như mọi cơ thể sống khác, nó chỉ có thể biến chuyển bởi những
tích tụ từ đời này qua đời khác một cách chậm chạp và lâu dài. Những thay đổi
mà con người có thể tạo ra chỉ là thứ bề ngoài…
Nếu không có truyền thống,
tinh hoa của dân tộc hay nền văn minh dân tộc đó không thể được hình thành. Vì
thế, con người sẽ có hai mối quan tâm chính kể từ khi được sinh ra, là thiết
lập cho mình một hệ thống những tập tục, và cũng chính là thứ mà con người sẽ
nỗ lực phá bỏ khi những tác dụng hữu ích của chúng không còn nữa. Không thể có
nền văn minh nếu thiếu truyền thống nhưng không thể có phát triển nếu không phá
bỏ những truyền thống đó. Khó khăn nan giải nhất là tìm ra sự cân bằng giữa ổn định
và phát triển, tức là sự biến đổi. Nếu một dân tộc cho phép truyền thống của
mình bám rễ quá sâu và quá vững chắc thì sẽ chẳng còn gì có thể thay đổi được
nữa... Trong trường hợp đó, những cuộc cách mạng bạo động cũng chẳng mang lại
điều gì bởi khi đó, những mảnh vỡ của hệ thống phong tục lại dần dần gắn bó lại
với nhau để rồi trở lại thời quá khứ mà không hề có chút thay đổi nào…”
Làm thế nào để truyền bá tư
tưởng tiến bộ của phương Tây?
Các xã hội phát triển Âu -
Mỹ được xây dựng trên những nền tảng tri thức vững chắc, vốn được kế thừa và
phát triển từ thời Hy Lạp, La Mã, qua các thời kỳ Phục Hưng, Khai sáng và thời
kỳ Chủ nghĩa hiện đại của thế kỷ XIX - XX. Tất cả những tri thức nền tảng này
đều được đúc kết trong tác phẩm của những học giả nổi tiếng (Plato, Aristote, Newton, Darwin,
Kant, Hegel, Tocqueville, Mill, Russell, Wcher, Smith. Hayek...), chúng làm nền
móng cho tòa nhà tri thức phương Tây, làm cơ sở cho triết học, khoa học tự
nhiên, khoa học nhân văn, nghệ thuật, xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền. ..
![]() Người Nhật đã biết tiếp thu kiến thức phương Tây từ rất sớm.
Nhiều quốc gia khác đã học
tập phương Tây như Nhật Bản khi nhận ra rằng đằng sau sức mạnh bề ngoài về quân
sự và công nghệ, phương Tây còn sở hữu một lâu dài tri thức đồ sộ. Ngay từ thời
Minh Tri cách đây 120 năm, giới trí thức Nhật Bản đã quyết tâm dịch những tác
phẩm kinh điển phương Tây ra tiếng Nhật. Việc dịch thuật đã trở thành chiến
lược quốc gia, góp phần quyết đinh vào việc xây dựng cơ sở nền tảng cho các
ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học nhân văn của Nhật Bản, giúp nước này
chỉ trong thời gian ngắn đã đuổi kịp phương Tây, xây dựng được một xã hội giàu
có, dân chủ và tiến bộ hàng đầu thế giới, đồng thời vẫn giữ được bản sắc hết
sức riêng biệt của mình.
Con đường canh tân của Nhật
Bản đã làm bài học và hình mẫu cho giới trí thức Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều
quốc gia khác ở Châu Á. Việt Nam cũng là một quốc gia nằm trong quỹ đạo tư
tưởng Đông Á. Những người đi tiên phong như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn
Văn Vĩnh rồi điển hình như Phan Chu Trinh... đã bắt tay vào dịch những tác phẩm
phương Tây để truyền bá tới công chúng Việt Nam. Nhưng vì nhiều lý do khiến cho
việc dịch thuật những tác phẩm rường cột của phương Tây diễn ra chậm chạp. Như
vậy. Việt Nam
đã đi sau các nước Châu Á nói trên không chỉ về kinh tế mà còn cả về học thuật.
Riêng về học thuật việc thiếu những cuốn sách rường cột được dịch ra tiếng Việt
khiến cho Việt Nam
bị mất để và tụt hậu so với thế giới.
Như chúng ta đã biết, tình
hình tiếp nhận tri thức tiến bộ phương Tây tại Việt Nam là rất tồi tệ rồi. Vậy nhân dịp
ra mắt hàng loạt các tác phẩm kinh điển về tư tưởng của phương Tây tại Việt Nam, chúng ta nên tổ chức các câu lạc bộ, hội
nghiên cứu về tư tưởng phương Tây để dễ dàng truyền bá hơn tư tưởng phương Tây
vào Việt Nam.
Qua tiếp nhận trí thức mới này thì mới mong thúc đẩy được dân chủ tại Việt Nam, nơi nhiều
người còn lơ mơ về nhân quyền và dân chủ.
Chúng ta có tổ chức được 1
ngôi trường tư thục như Đông Kinh Nghĩa thục ngày xưa của cụ Phan để truyền bá
các tư tưởng này ta nghĩ còn tốt hơn rất nhiều. Bây giờ tại VN đã cho phép lập
trường tư thục rồi.
Trên đây chỉ là chút ý kiến
của tôi, mong các vị đóng góp. Về trí và lực thì tôi vẫn chưa đủ nên cần các vị
hỗ trợ thêm để ý tưởng này thành hiện thực.
|
Lột đồ chịu nhục
Bà Phạm Thị Lài (SN 1960) và con gái là Hồ Nguyên Thủy (SN1979) đã khỏa thân để giữ phần đất mà họ cho rằng đã bị Công ty CIC 8 chiếm đoạt một cách thiếu minh bạch. Người chồng, sức yếu, thế cô, cổ ngắn uất ức đến nỗi đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Còn giờ, hai người phụ nữ nói họ chấp nhận “lột đồ chịu nhục” để phản đối. Bởi “tài nguyên” mà họ bảo vệ chính là ngôi nhà, là sinh kế của họ.Để dân phải nổ súng, đặt bom, hay tự tử, lột đồ để giữ đất, nói cách gì cũng là lỗi của ai đã đẩy họ vào bước đường cùng.
Theo Đào Tuấn
Nghĩ ngợi ngày 1/6
Tĩnh lặng để nghĩ ngày 1/6 mà chua.
Thế hệ ông bà các cháu đang khoác lên những đôi vai nhỏ xíu kia những món nợ khổng lồ!
Tài nguyên đất nước khai thác tràn lan, còn đâu nữa mà dành cho các cháu và con cháu các cháu.
Và dành cho các cháu 1 môi trường bị xâm hại ghê gớm do các dự án sân gôn, thủy điện, nhà máy lạc hậu về công nghệ thải bao nước độc.
Đặc biệt dành cho các cháu 1 nền văn hóa thụt lùi, đã đang và sẽ xói mòn nhân cách các cháu!
CCB Đặng Ngọc Định
Đây là toàn văn mail Định vừa gửi nhờ tớ chuyển đến Nguyễn Dũng:
Sinh ngày: 25 tháng 01 năm 1952
Quê quán: Xã Hải Vân; Huyện Hải Hậu; Tỉnh Nam Định.
Nơi ở hiện nay: số 4 nhà A1 khu đô thị Đại Kim, Phường Định Công; Quận Hoàng Mai; TP Hà Nội
Nhập ngũ: ngày 22 tháng 9 năm 1972 tại đơn vị C1.D495. E568.
Trước khi đi bộ đội là SV Lớp Máy tính 69 (K14), Khoa Vô tuyến điện.
Trước khi đi bộ đội là SV Lớp Máy tính 69 (K14), Khoa Vô tuyến điện.
Đi B tháng 1 năm 1973. Vào Đảng ngày 05 tháng 3 năm 1973
Từ tháng 01 năm 1973 đến tháng 6 năm 1975 biên chế tại đơn vị C3. D140. E13. Quân khu C50
Được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng III.
Xuất ngũ: Tháng 1 năm 1976 trở về trường học tại Lớp kỹ thuật K19A, Khoa Vô tuyến điện ĐHBK Hà Nội.
Ngày 22 tháng 12 năm 1979 về nhận công tác tại Phòng Vật tư kỹ thuật - Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội cho đến nay.
Để lâu chân trâu hóa... đùi
Thứ ba, ngày 29 tháng năm năm 2012
Mình phải trại cái câu tục ngữ kia để blog mình khỏi tục, vì
nhắc đến một từ "nhạy cảm". Nó cũng nhạy cảm như những từ cưỡng chế,
mất đất, oánh dân... hiện nay.
Là hôm qua mình thấy thủ tướng phải có hẳn một yêu cầu riêng
về vụ Văn Giang, cái vụ mà phó chủ tịch thường trực tỉnh và chánh văn phòng
luôn miệng ca ngợi thành công tốt đẹp, không có ai bị đánh và có địch lợi dụng,
địch tường thuật trực tiếp từng phút và dựng clip giả bôi nhọ chính quyền.
Thấy công an Hưng Yên hẹn làm việc với VOV rồi lại hoãn.
Thấy mấy cặp... chân trâu đang hóa đùi trâu thì thủ tướng nhắc, nói rõ vụ đánh
người, phải xử lý nghiêm.
Thấy thương mấy chú dùi dục chấm mắm cáy, đụng hàng thứ
thiệt rồi. Khi oánh, chắc chắn các chú phải được lệnh từ thượng cấp, cộng với
tính côn đồ cố hữu, các chú oánh cho sướng tay. Giờ chắc chắn theo lệnh thủ
tướng, làm nghiêm thì các chú chết trước. Lại khổ mẹ và vợ các chú.
Nhưng chưa chắc. Vụ Tiên Lãng đấy, thủ tướng cũng quyết
ngay, quyết quyết liệt. Nhưng đến giờ, chân trâu cũng hóa đùi trâu rồi. Cái nhà
bị phá tan hoang giữa thanh thiên bạch nhật thế, các cơ quan chức năng Hải
Phòng giờ này vẫn chưa định giá xong và chưa xác định ai phá, đồng nghĩa chưa
khởi tố bị can vụ phá tài sản công dân được. Tương tự ông chánh hưng Yên bảo
cái clip mờ mịt thế ai thấy ra ai mà điều tra. Chỉ ông là không thấy thôi chứ
ai cũng thấy hết, ai cũng rõ cái việc này nó dễ hơn... cắt móng tay nữa, nhưng
đến giờ, ở báo cáo mới nhất, vẫn là: thành công tốt đẹp, không ai bị đánh.
Hôm nay báo đồng loạt đưa tin, vợ ông Vươn đã gửi đơn đề
nghị rút quyết định khởi tố 2 người đàn bà chống người thi hành công vụ, khi họ
không có mặt ở cuộc cưỡng chế, đồng nghĩa với việc họ không thể chống người thi
hành công vụ. Hơ hơ, vụ này còn nhiều điều hay.
Có điều qua 2 vụ này, nhờ thế thủ tướng nên ta có thể yên
tâm, từ nay chắc sẽ ít còn công bộc dám láo với dân, coi dân là thế lực thù
địch, muốn đánh thế nào thì đánh, muốn bắt thế nào thì bắt...
Cứ là tin tưởng thế nhé nhé...
Được đăng bởi Văn Công Hùng vào lúc 08:59:00
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ
lên Facebook
8 nhận xét:
Nặc danh nói...
Bác Hùng bị hớ rồi
, bác cần đọc kỹ chỉ thị của TT , tôi xin trích :
"Thủ tướng
vừa yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo Công an tỉnh Hưng Yên phối hợp với các cơ quan
bảo vệ pháp luật khẩn trương điều tra; nếu đủ căn cứ phải khởi tố vụ án để xử
lý theo đúng quy định của pháp luật đối với những hành vi gây rối trật tự công
cộng và đánh người trong việc tổ chức cưỡng chế ngày 24/4/2012 tại Văn Giang,
Hưng Yên."
Vụ đánh người là
nhỏ, vụ gây rối trật tự công cộng mới là chính. Mà ai gây rối thì bác tự hiểu, chẳng nhẽ là các đ/c CA ?
10:09 Ngày 29
tháng 5 năm 2012
31 thg 5, 2012
CCB, LS lớp Bán Dẫn 69
Danh sách các bạn lớp Bán Dẫn 69 đi bộ đội những năm còn ngồi trên ghế trường đại học Bách Khoa Hà Nội
1- Nguyễn văn Chanh, nhập ngũ 26-8-1970
2- Nguyễn văn Chấn, nhập ngũ 26-8-1970
3- Đỗ Mạnh Tôn, nhập ngũ 26-8-1970
4- Nguyễn Xuân Boong, nhập ngũ 26-8-1970
5- Nguyễn Xuân Thu, nhập ngũ 26-8-1970
6- Lê Đức Thái, nhập ngũ 26-8-1970
7- Nguyễn Đức Thao, nhập ngũ 26-8-1970 Liệt sĩ
8- Nguyễn Ngọc Minh, nhập ngũ 26-8-1970
9- Trần Thành Đô, nhập ngũ 6-9-1971
10- Nguyễn Tư Thảo, nhập ngũ 6-9-1971 Liệt sĩ
11- Lê văn Cúc, nhập ngũ 25-5-1972
12- Trần Nguyên Quí, nhập ngũ 25-5-1972
13- Bùi văn Vững, nhập ngũ 25-5-1972 Tử sĩ
1- Nguyễn văn Chanh, nhập ngũ 26-8-1970
2- Nguyễn văn Chấn, nhập ngũ 26-8-1970
3- Đỗ Mạnh Tôn, nhập ngũ 26-8-1970
4- Nguyễn Xuân Boong, nhập ngũ 26-8-1970
5- Nguyễn Xuân Thu, nhập ngũ 26-8-1970
6- Lê Đức Thái, nhập ngũ 26-8-1970
7- Nguyễn Đức Thao, nhập ngũ 26-8-1970 Liệt sĩ
8- Nguyễn Ngọc Minh, nhập ngũ 26-8-1970
9- Trần Thành Đô, nhập ngũ 6-9-1971
10- Nguyễn Tư Thảo, nhập ngũ 6-9-1971 Liệt sĩ
11- Lê văn Cúc, nhập ngũ 25-5-1972
12- Trần Nguyên Quí, nhập ngũ 25-5-1972
13- Bùi văn Vững, nhập ngũ 25-5-1972 Tử sĩ
Giaỉ thưởng Phan Châu Trinh
Giải thưởng văn hóa Phan Châu
Trinh và tinh thần Nhật Bản
LGT: Chắc chắn tại thời điểm này, không fải ai cũng biết đến GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH. Vậy đăng bài này từ trang 'Thể thao văn hóa' để ai chưa đọc đến thì tham khảo, qua đó thấy được phần nào chủ trương đúng đắn, vĩ đại của Cụ - chủ trương đưa dân tộc
thoát ra khỏi vòng nô lệ theo kiểu Nhật Bản. (vì những lý do khác nhau mà bài báo kg thể nói rõ hơn, cụ thể hơn). Đây là 1 giải thưởng kg fải của nhà nước, nhờ sự giúp đỡ của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình mới lập ra được.
(Vào google gõ Giải thưởng Phan Châu Trinh sẽ ra cả đống trong nháy mắt, tiếc rằng kg 1 bài báo nào có thể viết cụ thể hơn được)
| Nhà văn Nguyên Ngọc Ảnh: Ngô Vương Anh |
- Về dịch thuật, nên nói đến
trường hợp Nhật Bản, nước có lẽ đã dịch nhiều nhất thế giới với chiến lược quốc
gia. Ngay từ thời Minh Trị, người Nhật đã lên kế hoạch dài để dịch rất nhiều
tác phẩm lớn của nhân loại. Từ thời đó, họ đã dịch và xuất bản tác phẩm Bàn về
tự do (On Liberty) của John Stuart Mill chỉ mấy năm sau khi nó ra đời ở Anh, và
in đến 2 triệu bản trong khi dân số nước Nhật bấy giờ mới chỉ có 32 triệu
người. Sức lan tỏa của những tư tưởng đó, như cụ Phan Châu Trinh đã nghiền
ngẫm, đúc kết, đã mang lại sức mạnh kỳ diệu cho đất nước này................
Giải thưởng văn hóa Phan Châu
Trinh 2010 vừa trao cho 6 nhà nghiên cứu và dịch giả thuộc các lĩnh vực:
Giải thưởng giáo dục trao cho GS
Hoàng Tụy với những nghiên cứu và đề xuất của ông về cải cách giáo dục suốt hơn
mười năm qua.
Giải thưởng nghiên cứu trao cho
nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân với các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam và đặc biệt
là văn bản học tiếng Việt.
Giải thưởng dân tộc học dành cho
hai học giả nước ngoài: nhà văn, nhà phê bình Kevin Bowen (Mỹ) - người có rất
nhiều đóng góp trong việc giao lưu, tìm hiểu văn hóa và thúc đẩy ngành Việt Nam
học tại Mỹ và nhà dân tộc học Ivo Vasiliev (Séc) - người đã công bố nhiều
nghiên cứu giá trị về ngữ pháp Hán - Việt và di sản Việt cổ.
Giải thưởng dịch thuật trao cho dịch
giả Phạm Văn Thiều với các bản dịch tác phẩm của nhà vật lý Trịnh Xuân Thuận và
dịch giả Nguyễn Đôn Phước với các đầu sách kinh điển về kinh tế.
Giải thưởng năm 2012: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/64931/gs-tra-n-van-khe-go-i-gia-i-thuo-ng-phan-chau-trinh-la--tri-am.html
Giải thưởng năm 2012: http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/64931/gs-tra-n-van-khe-go-i-gia-i-thuo-ng-phan-chau-trinh-la--tri-am.html
* Nói đến Phan Châu Trinh, hầu
như người Việt Nam
nào cũng biết, nhưng không phải ai cũng hiểu về tinh thần Phan Châu Trinh. Ông
có thể nói rõ hơn về tinh thần này, điều mà Quỹ và Giải thưởng văn hóa Phan
Châu Trinh đã nêu lên làm phương hướng?
- Những năm gần đây các nghiên
cứu về Phan Châu Trinh được đẩy mạnh hơn, đã dần soi sáng được ngày càng rõ hơn
một số điểm cốt lõi trong tư tưởng và sự nghiệp của ông. Như chúng ta đều biết,
đầu thế kỷ XX, sau khi phong trào Cần Vương thất bại và tan rã, đã có sự khủng
hoảng nghiêm trọng về đường lối cứu nước, làm thế nào để có thể đưa dân tộc
thoát ra khỏi vòng nô lệ tàn khốc. Trong tình hình vô cùng bức xúc đó, như sau
này học giả Hoàng Xuân Hãn nói, Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và đã
tìm ra nguyên nhân mất nước ở trong văn hóa, trong sự thua kém về văn hóa của
chúng ta so với đối thủ của mình cả một thời đại. Suốt hàng nghìn năm trước,
chúng ta đã phải liên tục chống ngoại xâm và rất nhiều lần phải chống lại đối
thủ đông mạnh hơn ta nhiều lần. Nhưng dẫu đông lớn đến mấy, về mặt lịch sử, đối
thủ đó là cùng một thời đại với ta, ngang bằng ta về thời đại…
Có thể nói Phan Châu Trinh là
người đầu tiên nhận diện được hết sức rõ ràng “đối thủ mới”, khác hẳn đối thủ
truyền thống suốt nghìn năm trước. Hoặc nói như ngôn ngữ thời nay, ông là người
đầu tiên nhận ra tình thế “toàn cầu hóa”, cuộc toàn cầu hóa lần thứ nhất, có
thể gọi như vậy, khi chúng ta giáp mặt với phương Tây, tức với toàn thế giới
rộng lớn mà từ nay ta bắt buộc phải sống trong đó, tồn tại và phát triển trong
thế giới đó, hay suy vong và mãi mãi chịu nô lệ. Như vậy cách đặt vấn đề của
Phan Châu Trinh khác hẳn những chí sĩ đương thời chỉ thấy và chủ trương một
cuộc chiến đấu chống ngoại xâm hệt như tổ tiên đã chiến đấu chống xâm lược
Trung Hoa suốt lịch sử trước. Phan Châu Trinh chủ trương nâng dân tộc mình lên
cho ngang bằng đối thủ mới, bằng một cuộc khai hóa lớn, mà ông gọi là “khai dân
trí”, để từ đó mới chấn hưng được dân khí, và đi đến làm cho đất nước phồn vinh
phát triển (hậu dân sinh). Nếu bằng cách nào đó giành được độc lập, mà dân trí
vẫn lạc hậu u muội, thì độc lập đó cũng chẳng có nghĩa gì và không thể vững
chắc…
Chúng ta đã biết, do những điều
kiện éo le và khắc nghiệt, chương trình sáng suốt của Phan Châu Trinh bị dở
dang. Vậy nên công cuộc khai hóa mà vị tiền bối anh minh đã chỉ ra một trăm năm
trước ngày nay nhất thiết phải được tiếp tục, càng phải sâu sắc, cơ bản và khẩn
trương hơn, trong điều kiện toàn cầu hóa đầy thách thức ngày nay.
Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh và
Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh lấy mục tiêu góp phần vào công cuộc tiếp
tục khai hóa đó làm tôn chỉ cao nhất của mình.
CCB nhập ngũ từ Máy tính 69
Đây là ảnh các CCB nhập ngũ từ lớp Máy tính 69 (k14vt). Ảnh cắt ra từ tập ảnh của lớp còn lưu lại. Còn thiếu ai thì Tất Nam, bác Quốc, Huệ, TM Phương bổ xung nhé: (sửa lần 1 sau Góp ý của Tất Nam).
1/ Bùi Huy Nhiệm, Nhập ngũ tháng 6/1971, Quê: Kiến An, Hải Phòng.
2/ Đặng Ngọc Định
3/ Lê Ngọc Bảo, Nhập ngũ 1970
4/ Lê Ngọc Hợt, Nhập ngũ ngày 10-1-1972, quê Thanh hóa
5/ Lương Xuân Thanh, Nhập ngũ 1970
6/ Nguyễn Toàn Thắng
7/ Nguyễn Văn Nhượng, Nhập ngũ 1970, Quê: Thanh Chương, Nghệ An.
8/ Nguyễn Đình Hùng
9/ Phạm Ngọc Lễ
10/ Nguyễn Văn Tuấn, Nhập ngũ 1970
11/ Phạm Văn Ôn
12/ Tân Văn Đoàn, Ngày nhập ngũ: 25/5/1972, quê Hải Dương.
13/ Thái Doãn Đồng, nhập ngũ 6/9/1971, Quê: Diễn Châu, Nghệ An .
14/ Thẩm Ngọc Huy, Nhập ngũ 6/9/1971, Nguyên quán: Long Biên, Hà Nội.
15/ Trần Nguyên Bá, Nhập ngũ ngày 26/08/1970, quê Nam Định.
16/ Trịnh Anh Đức, Nhập ngũ đợt 3 năm 1972 tại Phú Xuyên, Hà Tây, Quê: Thuỷ Khuê, Ba Đình, Hà Nội
17/ Trịnh Minh Tân
Rất có thể đến thời điểm này các CCB sau đã kê khai: 1/ Lê Ngọc Hợt (Email), 2/ Tân Văn Đoàn (điều tra), 3/ Trần Nguyên Bá (Emạil), 4/ Trịnh Đình Tân (đọc cho Dũng ghi), 5/ Lê Ngọc Bảo (đến tận nơi làm việc của Dũng), 6/ Thẩm Ngọc Huy (đã có). Bạn Nguyễn Dũng, biên tập viên hội CCB cho ý kiến bổ xung nhé!
Đề nghị các CCB còn lại khẩn trương kê khai nhé, nhé.
Tất Nam chép lại danh sách này vào Nhận xét của cậu và điền ngày nhập ngũ, quê quán của từng người hộ nhé (chú ý đọc lại các email Hợt, Bá đã gửi và Đoàn đã có).Tao bận và mệt mỏi quá!
Tất Nam chép lại danh sách này vào Nhận xét của cậu và điền ngày nhập ngũ, quê quán của từng người hộ nhé (chú ý đọc lại các email Hợt, Bá đã gửi và Đoàn đã có).Tao bận và mệt mỏi quá!
Nhớ "Một thời hoa lửa"
Thư của Nguyễn Dũng gửi Blog k14vt lúc: 22:38 Thứ Tư, 30 tháng 5 2012
Nguyễn Dũng xin thay mặt BBT Kỷ yếu CCB-Hội CCB ĐHBK HN gửi lời chào và
lời cảm ơn chân thành tới các anh chị K14-VTĐ-ĐHBK HN.
Thời gian qua, Ban biên tập kỷ yếu CCB ĐHBK đã nhận được sự hưởng ứng,
giúp đỡ nhiệt thành, chí tình của các anh chị tại blog k14vt.blogspot.com
Qua đó, chỉ với thời gian ngắn mà chúng tôi đã nhận được nhiều thông tin
quan trọng, hữu ích về CCB và Liệt sỹ, góp phần tích cực cho việc hoàn thành cuốn
Kỷ yếu CCB ĐHBK HN. Chúng tôi rất mong còn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của
các anh chị (nhất là những trường hợp dữ liệu chưa được đầy đủ về CCB và LS)
Hiện đã có được 21 dữ liệu về CCB và LS. Một con số không hề nhỏ. Rất cảm
ơn về sự kịp thời của sáng kiến về mục "Lần tìm đồng đội". Nó làm cho
sự giao lưu của mọi người trong blog có nội dung phong phú và chất lượng hơn. Nếu
nói là sự giáo dục truyền thống với chúng ta thì không phải, nhưng bất cứ ai
vào blog này sẽ thấy những nỗi niềm của một thời. Nó làm chúng ta gắn bó với
nhau hơn.
Xin gửi tới các anh chị 2 bài viết về tượng đài "Sinh viên lên đường
bảo vệ Tổ quốc"
Từ ngày 15 tháng 3 năm 2010, vào mỗi Thứ
Hai hàng tuần tại Quảng Trường C2, nơi ghi dấu những nét son của sinh viên các
trường ĐH Thủ đô nói chung và của Thầy và Trò trường ĐH Bách Khoa Hà Nội nói
riêng, chi đoàn các lớp sinh viên K54 tổ chức Lễ Chào cờ truyền thống đầy
ý nghĩa
Tháng
Thanh niên luôn là tâm điểm cho các hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh ở tất cả các cấp với nhiều hoạt động ý nghĩa nhằm mục đích tạo những
sân chơi bổ ích cho sinh viên, đồng thời cũng góp phần giáo dục chính trị, tư
tưởng, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Hưởng ứng Tháng Thanh niên năm
2010, được sự đồng ý của Đảng Ủy – Ban Giám hiệu, BCH Đoàn trường Đại học Bách
Khoa Hà Nội đã giao nhiệm vụ cho BCH LCĐ sinh viên năm thứ nhất K54 tổ chức Lễ
Chào cờ truyền thống vào tất cả các ngày Thứ Hai hàng tuần. Lễ Chào cờ truyền
thống là cơ hội để Đoàn trường Đại học Bách khoa Hà Nội khơi dậy trong đoàn
viên, sinh viên một nghi thức thiêng liêng và tự hào nhất đối với mỗi người dân
Việt Nam – được hát vang quốc ca trong tiếng nhạc hùng tráng dưới quốc kỳ đỏ thắm
– một nghi thức nhiều khi đã không được thực hiện trong những buổi lễ có đông đảo
sinh viên tham gia. Lễ Chào cờ cũng là dịp để đoàn viên sinh viên rèn luyện ý
thức kỷ luật, thái độ nghiêm túc khi tham gia các hoạt động tập thể.
Bên cạnh ý nghĩa cao đẹp và thiết thực
đó, trong khuôn khổ Lễ Chào cờ, được sự hỗ trợ của Hội cựu chiến binh và Phòng
Công tác Chính trị - Công tác Sinh viên của trường, BCH LCĐ K54 cũng đã lồng
ghép giới thiệu về phong trào “Ba sẵn sàng” của tuổi trẻ Thủ đô Hà Nội trong
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội và ĐH Y
Hà Nội là 3 chiếc nôi khởi xướng; giới thiệu và dâng hoa tưởng niệm tại tượng
đài “Gác bút nghiên lên đường cứu nước”; thăm phòng truyền thống của trường để
giới thiệu truyền thống vẻ vang của ĐH Bách Khoa Anh Hùng. Cũng trong khuôn khổ
Lễ Chào cờ, các kế hoạch, chương trình hành động của Đoàn Thanh niên trường
trong cả học kỳ, của mỗi tháng, và hàng tuần được giới thiệu đến các bạn sinh
viên. Ngoài ra, các Thầy, Cô giáo là cố vấn học tập và các lớp sinh viên cũng
có thể kết hợp với hoạt động này để tổ chức họp lớp hoặc sinh hoạt chi đoàn.
Theo kế hoạch, buổi Lễ Chào cờ truyền thống
được triển khai đến tất cả các lớp sinh viên K54, được chia theo giảng đường và
luân phiên thực hiện vào buổi sáng hoặc buổi chiều Thứ Hai hàng tuần. Các lớp học
buổi sáng sẽ chào cờ vào buổi chiều và ngược lại, kéo dài cho đến hết học kỳ 2
năm học 2009-2010. Các bạn sinh viên tham gia Lễ Chào cờ đều được yêu cầu trang
phục chỉnh tề, đeo huy hiệu đoàn và giữ gìn kỷ luật, trật tự trong thời gian diễn
ra buổi lễ.
Mặc
dù chưa có được điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, các Thầy, cô giáo là cố vấn
học tập chưa bố trí được thời gian tham gia đầy đủ với các lớp sinh viên, nhưng
với sự sáng tạo của BCH LCĐ K54, Lễ Chào cờ truyền thống đã diễn ra trang trọng
và đúng nghi thức. Qua ba buổi thực hiện vào các ngày 15, 22, và 29/3 vừa qua,
có thể nhận thấy các bạn sinh viên đã rất nhiệt tình hưởng ứng, háo hức chờ đợi
và nghiêm túc tham gia Lễ Chào cờ truyền thống. Khi đội cờ rước 3 lá cờ Đảng, cờ
Tổ quốc và cờ Đoàn về vị trí, khi tiếng nhạc hùng tráng của Quốc ca, sôi nổi của
Đoàn ca vang lên, mỗi đoàn viên, sinh viên đều cảm thấy trào dâng niềm tự hào
dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước cũng như cảm nhận được trách nhiệm của tuổi
trẻ trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, tu dưỡng để lập thân, lập
nghiệp, xây dựng đất nước.
TƯỢNG ĐÀI “SINH VIÊN LÊN ĐƯỜNG BẢO VỆ TỔ QUỐC”
TƯỢNG ĐÀI CỦA “MỘT THỜI HOA LỬA”
Về thăm trường Đại
Học Bách Khoa Hà Nội trong thời gian gần đây, giữa những công trình đồ sộ như
Thư viện Tạ quang Bửu hay hệ thống đài phun nước trước tòa nhà chính C1, bạn
hãy đến thăm một địa điểm đặc biệt, đó là tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ Quốc” mà anh em cựu chiến binh chúng
tôi thường gọi là tượng đài của “Một thời
hoa lửa”
Không giống bất kỳ
một mô tip của một đài kỷ niệm về chiến tranh nào, không có hình tượng người
lính với khẩu súng trong tay hoặc hình ảnh ước lệ cây bút và khẩu súng, tượng
đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ quốc”được hình thành từ đá cẩm thạch nguyên
khối, màu trắng tinh khiết, xinh xắn trong khoảng đất chừng mười mét vuông, đứng
trang trọng giữa bãi cỏ xanh rì, dưới tán lá của cây muỗm già, một cây thuộc loại
cổ thụ nhất trong khuôn viên Nhà trường. Với một bố cục giản dị và đầy ý nghĩa,
một chiếc mũ gắn Quốc huy đặt ngay ngắn trên quyển sách đang mở, tượng đài giống
như là một bục giảng hay một bàn học trò mà chủ nhân của nó vừa chợt đi đâu và
nhất định sẽ trở về. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Anh Cả của lực lượng vũ
trang Việt Nam khi khánh thành tượng đài đã đề lời tặng “Tổ Quốc ghi công lớp lớp thầy giáo, sinh viên đã xếp bút nghiên lên đường
chiến đấu và đóng góp xứng đáng vào chiến thắng của dân tộc. Tinh thần yêu nước
mãi mãi là ngọn lửa soi sáng các thế hệ thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp
phát triển đất nước trở thành quốc gia giàu mạnh, hòa bình và hạnh phúc”.
Được xây dựng vào
tháng 10 năm 2006, đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội,
tượng đài “Sinh viên lên đường bảo vệ Tổ
Quốc” minh chứng sự tôn vinh của những người đang sống đối với một thế hệ
sinh viên, đặc biệt là thế hệ sinh viên – chiến sỹ. Tại nơi đây, tháng 9 năm
1971, trên 600 sinh viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội cùng với hàng ngàn
sinh viên của các trường Đại Học Tổng Hợp, Đại Học Xây Dựng, Đại Học Kinh Tế Quốc
Dân… đã tạm gác bút nghiên, tạm biệt thầy
cô, bạn bè và mái trường để lên đường vào Nam chiến đấu. Như một sự xắp đặt của
lịch sử, tất cả những người lính trẻ ấy đã được bổ sung vào một mặt trận và
cùng tham gia những trận chiến đấu ác liệt nhất để giành lại và gìn giữ từng tấc
đất của Thành Cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972. Trong những cuộc chiến đấu
khốc liệt ấy, hàng trăm người lính sinh viên đã không bao giờ được trở lại mái
trường thân yêu nữa, họ đã liệt oanh ngã xuống giữa chiến trường. Máu của họ đã
thấm đẫm những tấc đất Thành Cổ Quảng Trị hoặc đã hòa vào dòng Thạch Hãn đau
thương và anh hùng.
Sau cuộc chiến
gian khổ ấy, những người lính còn lại lại trở về với cuộc đời sinh viên. Không
một chút phàn nàn, họ đã học tập giữa những trận sốt rét, giữa những cơn đau của
vết thương, giữa những khó khăn của đời thường nhưng với một tinh thần mới và
đã trưởng thành. Trong số họ, nhiều người đã trở thành những nhà khoa học giỏi,
những nhà giáo chân chính, những nhà quản lý tài năng hoặc những sỹ quan cao cấp
của quân đội. Họ đã sống, làm việc và cống hiến thật nhiều cho cuộc đời, với
trách nhiệm của những người lính.
Hôm nay, những người
lính sinh viên năm nào lại gặp nhau bên tượng đài sau chuyến đi thăm chiến trường
xưa. Cuộc gặp gỡ thật cảm động và đầy chất nhân văn. Họ cùng nhau rải đều xung
quanh tượng đài những nắm đất còn ấm hơi đồng đội mà họ vừa cùng nhau đem về từ
Thành Cổ Quảng Trị anh hùng. Nhìn họ ôm nhau và nói chuyện rất vui, tôi chợt
nghĩ, rồi mai đây nắng mưa và thời gian sẽ mang nắm đất thiêng ấy hòa chung vào
mảnh đất nơi chúng ta đang đứng đây như một chứng nhân của lịch sử.
Cuộc sống vẫn tiếp
diễn và ngày càng tốt hơn như những đóa hoa vẫn hàng ngày nở thắm bên tượng đài. Các chiến sỹ - sinh viên ngày ấy vẫn có
một điểm hẹn tại nơi này. Họ cùng về bên tượng đài để ôn lại những kỹ niệm vui
buồn của “Một thời hoa lửa”
Bài của LÊ HẢI HƯNG. Cựu
chiến binh, cán bộ giảng dạy Viện Vật lý Kỹ Thuật, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
(Tập san Đại học Bách Khoa Hà Nội số 117 – 118)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

