21 thg 5, 2013

Chiều thu Hồ Tây…


Hoài niệm
"...Chiều thu Hồ Tây, mặt nước vàng lay, bờ xa mời gọi...."

Lại nhớ bài hát của Phó Đức Phương :
"… Mênh mông Hồ, sương thu tan trong gió...bến trúc lao xao, nhớ thủa nào…
Một khoảng trời, khoảng tình..."

Thăng Long thành hoài cổ 

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa thành thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường. 
       Bà Huyện Thanh Quan làm bài thơ này, sau năm 1802, khi mà Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long mất địa vị đầu não của đất nước về chính trị và văn hóa. 
       Chủ đề: Bài thơ tả cảnh ngụ tình. Cảnh thì tang thương. Tình thì hoài cổ. GS. Phạm Thế Ngũ viết: Bài này nói lên nỗi đoạn trường của tác giả trước cảnh hoang tàn của cố đô đất Bắc.
       Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú (Đường luật).

*
TÂY HỒ VỌNG NGUYỆT

Hiu hắt Hồ Tây chiếc lá rơi
Đêm thu vằng vặc bóng theo người.
Mảnh tình xẻ nửa ngây vì nước
Tri kỷ trông lên đứng tận trời
Những ngán cành đa khôn quấn quít
Mà hay mặt sóng cũng chơi vơi.
Ai lên cung Quế nhờ thăm hỏi
Soi khắp trần gian có thấy ai? 
(Tản Đà - Bài này vừa làm xong, là vì nghe nói có người thiếu nữ tại Nam Định, tên là cô Nguyệt thông biết chữ nho và yêu mến văn quốc ngữ; có ra bài thơ để kén mặt tài nhân. Sự không biết có không, nhưng thấy 4 chữ đề xinh đẹp hữu tình, nhân lúc cao hứng nghĩ chơi: áng văn chương quả có khách hồng quần, cảnh mây nước cũng có phần thanh nhân. Trong toàn bài không chữ nào trùng nhau và chừa chữ (giăng) không dám dùng đến, là một cách trang trọng để biệt đãi khách Hằng Nga).

*
TÂY HỒ CHIỀU CUỐI NĂM.

Thời gian lắng xuống
Cuối mùa
Ráng chiều loang tiếng chuông chùa
Mênh mang.

Phố xa vui có xuân sang
Trong tôi vẫn lạnh
Ngỡ ngàng
Sót đông.

Hồ Tây sương phủ
Mênh mông
Màu thiền trải rộng sắc không
Hương trầm.

Đào phai
Ai nhẹ tay cầm
Riêng tôi nặng - nhớ
Tím bầm ruột gan.

Cổ Ngư
Gió cứ tràn ngang
Chúc mừng xuân đã sớm sang
Riêng người.

Nửa xuân
Nghe rộn tiếng cười
Nửa đông tôi chịu
Sắc tươi gió lùa. 
(-09.01.09- ĐOÀN VĂN NGHIÊU)
*
Chiều thu Hồ Tây…

Mơn man ngọn gió Hồ tây
Lung linh sóng bạc đong đầy mắt em
Xiêu xiêu hàng liễu buông rèm
Thơm trong hương cốm tình em Hà Thành

Lá vàng trải thảm dịu êm
Vi vu tiếng sáo êm đềm chiều thu
Tiếng chuông Trấn Quốc ngân ru
Gợi hồn thi sĩ mùa thu sắc vàng 
(Đỗ Sơn Hà)

*
Hồ Tây bảng lảng. Chiều rồi
Gió từ đâu cứ rối bời trong ta
Tây Hồ năm tháng phôi pha
Nét rêu phong đã nhạt nhoà gió sương

Ai người đi để vấn vương
Đơn côi một cõi phố phường ưu tư
Người - như một kiếp phù du
Câu thơ bạc với đêm thu Tây Hồ 
(Trần Anh Thái -1994)
Nhặt trên Net

Chớm thu

http://files.myopera.com/phungmaoyb2/blog/thu%202.jpg

Đành hanh cái nắng chớm thu
Nửa như nhớ Hạ nửa như giận mình
Gặp Thu cũng muốn ngoại tình
Lại e sen muộn đầu đình ngóng trông
Cốm xanh vương vít trái hồng
Xóm bên người ấy lấy chồng phố xa
Chớm thu nắng đổ về già
Bao nhiêu mắt mở vườn na dậy thì...

Trần Nhương
Đại Lải 14-8-2001

Tốn công tốn sức tốn tiền

Tốn công tốn sức tốn tiền
Tốn thời gian của nhân dân, ích gì !
Góp ý sửa đổi làm chi*
Tư duy thành sẹo, chai lỳ, căn thâm…

Nước đổ đầu vịt rầm rầm
Vẫn khô, vẫn cứ cố hầm bài xưa
Mặc cho ngày nắng đêm mưa
Bách tính khổ ải, chưa vừa lòng tham**.
---- 
* Góp ý sửa đổi HP
** chức, quyền, danh, lợi…
honngv

20 thg 5, 2013

Dự tiệc cưới con gái Vĩ

Sáng nay, nhận lời mời của Phạm Như Vĩ (cựu SV lớp Bán dẫn 69-k14vt), bọn mình kéo nhau lên Sơn Tây dự tiệc cưới con gái “hắn”. Vui. Nóng. Vài hình ảnh chớp vội bằng cái gọi là điện thoại dởm của mình. (chờ Kỳ Châu post ảnh đẹp hơn).
Chúc 2 cháu hạnh fúc, chúc mừng vợ chồng Vĩ, chúc nhau sức khỏe
Chúc mừng Phạm Vĩ 

 Chụp ảnh kỷ niệm
 Cháu nội Trần Miên (hơn 3 tuổi)
Chia tay “hoàng hôn”
Hôm qua ai thấy cũng trông (nhìn, ngắm, tán…)
Hôm nay thoắt cái thành ông thành bà.

Lớn & Nhỏ

Gia  Hy
          Đọc những dòng về lời bày tỏ của 2 em Uyên và Kha trước phiên tòa tôi đã không thể nào cầm được những dòng nước mắt, những giọt nước mắt của hạnh phúc, của tự hào và của xót xa.
          Tôi hạnh phúc vì tôi có cùng dòng máu Việt đang chảy trong người như 2 em, tôi tự hào vì các em luôn ngẩng cao đầu trong suốt phiên tòa với những lời nói đầy ấp tình yêu thương dành cho quê hương VN mà không hề run sợ trước bạo quyền của phiên tòa CS và cuối cùng là sự xót xa cho những người yêu nước phải chịu cảnh tù đày ở lứa tuổi đôi mươi.
          Tôi thiết nghĩ không cần 1 bút mực nào để diễn tả thêm về cái Đẹp đang tỏa sáng nơi 2 em nữa, cũng không cần 1 bản kiến nghị nào thêm nữa của những người gọi là Nhân sĩ Tri Thức, không cần thêm bất cứ 1 lời bình giải nào vì bản thân các em đã làm được tất cả mọi điều cho mình.
          Cái mà tôi muốn nói lên đó là sự bất công của những người LỚN, những người đang cầm quyền và những người không cầm quyền.
          Trong đời sống bình thường, khi 1 đứa trẻ lầm lỗi bất cứ 1 điều gì thì trước tiên người lớn thường gọi chúng đến để la mắng và trừng phạt. Nhưng trước khi la mắng hay trừng phạt thì người lớn thường hỏi nguyên nhân là 2 chữ : Tại Sao? Khi đứa trẻ trình bày nguyên nhân thì sau đó người lớn sẽ phân tích và mới luận tội dể trừng phạt chúng.
          Trừng phạt là điều tất nhiên trong bất kỳ xã hội nào để dành cho kẻ có tội nhưng biết lắng nghe và nhận lỗi thì đôi khi phải có cả cùng 2 phía!
          Nhưng ngay tại phiên tòa này, những người đang cầm cân nẩy mực để phán xét kẻ có tội, trước tiên phải xét về tư cách và đạo đức kể cả về nhận thức họ có đủ LỚN chưa? Đủ các điều kiện để nghe người NHỎ, người có tội trình bày chưa?( ai là người có tội thì không cần phải dài dòng nữa!)
          Khi những người Lớn, người có quyền phán tội người Nhỏ và người gọi là có tội đã chứng mình được rằng họ vô tội trước những phán xét của người LỚN, họ vô tội không do họ tự chống chế hay đổ thừa đổ lỗi cho ai, họ vô tội từ hành động đến lời nói mà bản thân đã được chứng minh 1 cách công khai, công khai từ suy nghĩ và hành động nhưng những người NHỎ này vẫn bị bắt ép phải nhận tội mà họ không hề chấp nhận.
          Họ, những người NHỎ này phải gánh chịu những bất công quá đáng của những người phán quyết chỉ vì 1 lý do đơn giản là những người phán quyết này không đủ LỚN, không đủ tư cách và đạo đức để làm 1 người LỚN, để phán xét và buộc tội người NHỎ.
          Người NHỎ này đã bị bắt ép làm người có tội trong sự vô cảm của những người LỚN, vì người NHỎ này họ đã có những suy nghĩ, những tình cảm vượt lên và lớn hơn những người LỚN quá nhiều, nhiều đến mức mà người LỚN đã cố tình không hiểu được họ, đã cố tình che lấp đi những trăn trở những yêu thương họ đã dành cho quê hương mà người LỚN không hề có được hoặc có đi chăng nữa cũng không hề dám hành động như họ.Và cuối cùng người LỚN này đã bắt họ, đã phạt họ, giam giữ họ vì những việc làm to lớn mà tất cả những người LỚN trong xã hội hiện nay không làm được trong đó có cả tôi, một người lớn bằng cả tuổi cha mẹ em cũng chỉ biết nghe, biết cảm nhận và biết đau xót chứ không hề làm được 1 điều gì cho 2 em ngay trong lúc này.
          Phiên tòa này đang làm gì? nói lên điều gì để răn đe dạy dỗ người có tội? Hay chỉ là 1 phiên tòa nói lên 1 điều duy nhất là Lớn hiếp Nhỏ, mạnh hiếp yếu???
          Tôi cũng vô cùng thắc mắc về những người Lớn, những nhân sỹ tri thức, những người đã từng khoác áo sinh viên, đã từng xuống đường đấu tranh cho tự do cho hòa bình ở thời kỳ của chế độ VNCH, các vị đang nghĩ gì về 2 em sinh viên này? lương tâm quý vị có day dứt không, có trăn trở gì không khi nghe các em bị kết án 1 cách hiển nhiên về tội yêu nước? Tuổi trẻ của quý vị ngày xưa đẹp quá, đẹp đến nổi mà ngày xưa khi không có internet, không có những phương tiện thông tin hiện đại như ngày nay mà chỉ được nhìn thấy , được nhắc nhở đến những hình ảnh của quý vị qua báo đài hay tivi đã làm tôi hâm mộ điên cuồng và cứ ước ao sao mình có được 1 tuổi trẻ đẹp như quý vị!
          Ngày hôm nay, các em Uyên và Kha những người cũng khoác áo sinh viên, cũng bằng tuổi của quý vị cách đây vài mươi năm, cũng xuống đường đấu tranh cho tự do của dân tộc nhưng các em không được xã hội tôn vinh như quý vị, không được một ai dám bày tỏ sự hâm mộ một cách công khai như quý vị mà cái giá là các em phải vào tù dưới sự phán xét của các quan tòa XHCN. Cái XH mà quý vị đã từng đấu tranh để giành chúng cho dân tộc VN hôm nay!
          Quá đau xót trước những điều mà người LỚN đang hành xử với những người NHỎ, tôi không biết nói gì hơn với các em ngoài 2 chữ CÁM ƠN và cũng xin cúi đầu trước những người NHỎ này vì sự hèn nhát và mặc cảm nhục nhã của 1 người LỚN.
          Tôi xin cám ơn các đấng sinh thành ra 2 em, những người đã nuôi dưỡng các em, những người NHỎ nhưng có 1 tấm lòng quá to lớn dành cho đất nước VIỆT NAM, nơi tôi được sinh ra như các em, được làm 1 người LỚN nhưng không có được những suy nghĩ và hành động của những người NHỎ như các em.
          Cuối cùng tôi cám ơn trời phật đã cho tôi được làm người Việt Nam, được cùng dòng máu tiên rồng bốn ngàn năm chống giặc ngoại xâm của bao lớp thế hệ cha anh và của những người NHỎ hôm nay!

Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

19 thg 5, 2013

Có lẽ nên làm chuyến đi bản Cỏi “ngủ thăm” cùng sơn nữ


Khi màn đêm buông xuống, các sơn nữ Dao đến tuổi trưởng thành đốt một ngọn đèn, buông màn sớm và lên giường nằm. Những chàng trai chưa vợ có thể cạy cửa nhà các thiếu nữ mới lớn để chui vào tán tỉnh ở tư thế... chung chăn, chung gối với cô gái.

Tục lệ diễm tình hoang sơ
          Thật khó có thể tin, người Dao ở bản Cỏi, xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ từ hàng ngàn đời nay lại lưu truyền một phong tục hết sức kỳ lạ - tục “cạy cửa… ngủ thăm”. Mỗi khi màn đêm buông, những chàng trai chưa vợ có thể cạy cửa nhà các thiếu nữ mới lớn để chui vào tán tỉnh trong tư thế chung chăn, chung gối với cô gái. Nếu mọi chuyện tốt đẹp, cô gái ưng bụng người đến cạy cửa nhà mình, sau 5-6 lần ngủ thăm, chàng trai sẽ mang bạc trắng, lợn béo, rượu cần sang hỏi cô gái làm vợ...
 Các thiếu nữ nằm trong nhà sàn, thắp đèn đợi trai bản.
 Các thiếu nữ nằm trong nhà sàn, thắp đèn đợi trai bản..
          Bản Cỏi nằm tận cùng của huyện Thanh Sơn, cũng hơi ái ngại, nhưng sức hấp dẫn của tục ngủ thăm kia đã cứ thôi thúc mãnh liệt khiến tôi quyết tâm đi xe tới bản Cỏi cho bằng được. Mất hơn 4 tiếng đổ đèo leo dốc, tôi mới đặt chân được tới được bản Cỏi, đây là nơi xa nhất của xã Xuân Sơn, khung cảnh hết sức hoang sơ, gần như biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Chỉ có vài chục nóc nhà sàn chụm tập trung dưới những ngọn núi cao chót vót quá tầm mắt. 
          Lúc tới nơi cũng là lúc trời sâm sẩm tối. Tôi đành xin ngủ nhờ lại nhà người dân trong bản. May mắn cho tôi là những người trong bản Cỏi này đều tốt bụng. Thế nên, chẳng mấy chốc tôi được vào ngủ nhờ nhà anh Hà Văn Thắng và chị Hà Thị Giang, họ là một đôi vợ chồng trẻ mới cưới nhau chưa đầy 4 năm.
          Ngồi nhâm nhi chén rượu ngô, vốn có tính tò mò của dân làm báo, tôi mới buột mồm hỏi anh Thắng về tục “cạy cửa… ngủ thăm” ở đây. Vừa tủm tỉm cười, anh Thắng vừa giải thích cho tôi nghe: Tục cạy cửa ngủ thăm ở bản Cỏi có từ rất lâu đời rồi, những thiếu nữ đến tuổi cập kê, ban ngày đi làm ngoài đồng, ngoài nương, tối đến thắp một ngọn đèn, buông màn sớm và nằm trong đó. Các chàng trai trẻ đã để ý cô gái mà mình thích từ trước sẽ đến nhà đó tìm cơ hội vào cạy cửa để được ngủ thăm. Nếu thấy đèn trong buồng của cô gái còn sáng nghĩa là cô gái đó vẫn đang chờ đợi người tình, muốn vào nhà, chàng trai phải tự cạy cửa. Khi vào được nhà, chàng ta sẽ nằm xuống giường cô gái và phải để tự bàn tay cô gái ấy tắt hay vặn nhỏ ngọn đèn. Việc “vào tận nhà, sà tận giường” đối tượng cũng chính là dịp để người con trai tìm hiểu gia cảnh của người con gái mà mình có thể lấy làm vợ...
          Sau nhiều đêm tìm hiểu như thế, cô gái sẽ có quyền quyết định cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không. Nếu cô gái ưng bụng chàng trai đến ngủ thăm, để được “ngủ thật” cùng nhau, hai người phải thưa với bố, mẹ cả hai bên gia đình để xem có hợp tuổi không. Khi thời gian “ngủ thật” bắt đầu, cũng là lúc chàng trai phải đến ở làm công cho gia đình cô gái. Cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu. Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép. Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô gái sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào địu để đuổi khéo...
        Anh Thắng giải thích xong liền giục chị Giang dọn bát đũa rồi cùng tôi ra uống nước. Thấy tôi háo hức, anh Thắng bảo: “Cứ uống trà xong đi là vừa, tí nữa mình gọi thằng A Lý là em họ, tối nào chúng nó cũng đi, cho cậu đi cùng luôn cho biết”.

Tôi đi “cạy cửa… ngủ thăm”
          Cơm nước xong xuôi, tôi giục A Lý dẫn đi “cạy cửa… ngủ thăm”, A Lý có vẻ phấn khởi nói: “Anh yên tâm, em đã nhắm cho anh được một cô thuộc dạng “hoa khôi” rồi, tên là Luyến, năm nay 18 tuổi. Không chỉ em mà nhiều trai bản khác đến cạy cửa rồi, nhưng Luyến chưa ưng ai cả. Để lần này anh vào xem sao, thành công thì tốt mà không được cũng chả sao, vì đâu phải mình anh “bại trận”.
Bản Cỏi - nơi có tục cạy cửa... ngủ thăm. 
 Bản Cỏi - nơi có tục cạy cửa... ngủ thăm..
          Và rồi màn đêm cũng buông xuống, cả không gian chìm trong một màu đen tĩnh mịch, âm u của núi rừng Tây Bắc. Chỉ thấy tiếng suối ào ào chảy không ngừng nghỉ, văng vẳng đâu đó những âm thanh rên la, gào thét kỳ lạ của thú rừng.
          Từ xa, ánh đèn lờ mờ của vài nóc nhà sàn cũng đã hiện ra. A Lý nói với tôi: “Phía trước là nhà em Luyến đó anh, bây giờ em soi đèn cho anh đi vào đến gần cửa rồi anh tự mình “tác chiến” nhé, em sang nhà con bé ngay bên cạnh thôi, nếu vào trong mà Luyến không ưng thì anh sang đây gọi em nhé”.
          Đợi tôi đi đến thềm nhà, A Lý đổi hướng chiếu đèn và đi sang nhà bạn tình của anh chàng. Thú thật là khi còn có một mình, tôi cũng hơi lúng túng. “Kể ra có hai đứa, chưa biết còn ỷ lại được cho nó, giờ “đơn thương độc mã” cũng thật ái ngại” - nghĩ bụng thế nhưng tôi cũng đánh liều bước đến trước cửa, đèn bên trong vẫn sáng, nhưng không thấy có tiếng động gì cả. Tôi cố nhớ lại thật chính xác từng hành động cạy cửa của A Lý bảo tôi, tay tôi bấu vào chỗ gồ lên ở cánh cửa, khẽ tịnh tiến cửa lên phía trên để tạo độ trũng cho then cửa tuột ra và... “kịch” - tiếng then cửa rơi xuống nền nhà khiến tim tôi cùng lúc đập thình thịch. Vậy là tôi đã vượt qua được cửa ải đầu tiên.
          Tôi bước vào, đảo mắt nhìn một lượt, căn nhà sàn khá rộng, trống trải, rất ít đồ đạc, chỉ có bộ bàn ghế uống nước đặt ở chính giữa và một chiếc dây thép buộc dọc ở góc nhà treo đầy quần áo. Đến khi tôi đủ dũng cảm để lia mắt về phía chiếc phản gỗ buông màn trắng thì cũng là lúc bắt gặp ánh mắt sáng ngời của cô gái trong tư thế đang vén màn lên một cách ngơ ngác.
          Biết Luyến đang khó hiểu vì sự xuất hiện của một chàng thanh niên đeo kính cận, từ đầu tóc cho đến trang phục đều khác xa so với các trai bản, tôi liền nói bằng một giọng ấm áp nhất có thể: “Chào em, anh là anh họ của A Lý, cháu anh Thắng mới lên đây, anh là người Kinh, em cho anh ngồi xuống giường với nhé”.
          Cô gái mỉm cười nói: “Anh ngồi đi, nhưng sao anh lại đến nhà em?”. Tôi thật thà kể cho Luyến nghe về mục đích của mình là muốn đến đây tìm hiểu về phong tục kỳ lạ “cạy cửa… ngủ thăm” của người Dao. Cô bé tỏ vẻ rất thích thú lắng nghe và hỏi tôi: “Anh đi một mình như thế không sợ à? Lên đây dễ bị chài lắm đấy”. Thấy Luyến đã có vẻ cởi mở, tôi cũng mạnh miệng: “Sợ gì, nếu lỡ có cô gái đẹp như em chài anh cũng muốn”.
          Luyến có khuôn mặt trái xoan với má lúm đồng tiền làm nụ cười duyên dáng lạ kỳ và có mái tóc dài, buộc bằng vải lụa màu trắng, bảo sao thằng A Lý nói lũ thanh niên quanh bản này mê mẩn Luyến lắm. Ngồi cạnh giường, tôi thấy Luyến khẽ mỉm cười bước ra khỏi giường, tôi chưa hiểu chuyện gì thì thấy ánh đèn chợt vụt tắt. Luyến nói khẽ trong màn đêm: “Em tắt đèn, không lại có người khác vào”. Lúc màn đêm ập tới cũng là khi tôi biết, Luyến cũng muốn trò chuyện với mình.
          Trong bóng tối tĩnh lặng đó, tôi nghe rõ từng hơi thở của Luyến, cảm nhận thấy luồng hơi ấm tỏa ra từ người con gái đang ngồi bên cạnh. Đột nhiên, em nắm tay tôi, bàn tay mềm mại và mát lạnh của sơn nữ làm trái tim tôi đập loạn nhịp. Tôi không ngờ cái tục lệ này lại mang một màu sắc lãng mạn đến kỳ lạ như vậy. Luyến ngả đầu ngon lành bên vai tôi, bất chợt tôi lại nhớ đến lời căn dặn của ông trưởng bản, tôi biết mình phải giữ đúng nét trong sáng của cái tục lệ tìm kiếm bạn tình hoang sơ này. Chúng tôi trò chuyện khe khẽ trong bóng đêm. Cũng không biết mình ngồi đó cùng Luyến bao lâu, thấy em dường như đã yên giấc, tôi khẽ đặt em nằm xuống gối, toan xuống giường để ra về, tay tôi lại bị nắm chặt một lần nữa, Luyến nói: “Anh đi về à?”. Tôi đặt nhẹ tay lên má Luyến nói: “Anh phải về không anh Thắng lo....”.
          Tạm biệt bản Cỏi khi thung lũng còn đang ngái ngủ, tôi trở về phố thị với một nhánh phong lan rừng. Dẫu chỉ được “ngủ thăm” một tối, nhưng tôi thấy mình cũng mãn nguyện. Dù sao đó cũng là điều may mắn vì tôi đã biết thêm về một tập tục rất đặc biệt của một dân tộc vùng cao Phú Thọ. Tập tục ấy có thể còn những điều chưa hợp lý, nhưng theo các già làng, ông trời đã bắt họ làm vậy và điều cốt lõi, làm vậy để trai gái được kết duyên vợ chồng, được sống trọn đời chung thủy bên nhau...
 
 Trong bóng tối tĩnh lặng đó, tôi nghe rõ từng hơi thở của Luyến, cảm nhận thấy luồng hơi ấm tỏa ra từ người con gái đang ngồi bên cạnh. Đột nhiên, em nắm tay tôi, bàn tay mềm mại và mát lạnh của cô sơn nữ làm trái tim tôi loạn nhịp.
Theo Lao động

“Phạm tội gì đây ta thử hỏi, tội trung với nước với dân à?”

Nhân ngày 19.5
Tương Lai

Câu thơ Hồ Chí Minh viết trong “Ngục trung nhật ký” cách nay đúng 70 năm bỗng ngân vang trong những ngày tháng Năm cháy bỏng qua lời của Phương Uyên trước tòa án Long An ngày 16.5 :  “Tôi yêu nước, tôi thể hiện lòng yêu nước. Tôi không ngờ tôi bị bỏ tù vì thể hiện lòng yêu nước ấy… Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước, chúng tôi làm xuất phát từ tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn”.

Nếu 88 năm trước, Nguyễn Ái Quốc đau đớn thốt lên :”Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh“ * thì hôm nay, những Phương Uyên, Nguyên Kha, và nhiều, rất nhiều bạn đồng trang lứa với họ không còn phải “hồi sinh” mà đang dõng dạc trước vành móng ngựa những lời đanh thép, biểu hiện ý chí, trí tuệ và khí phách của thế hệ trẻ trước cường quyền và tội ác. “Tôi trước sau vẫn là một người yêu nước, yêu dân tộc tôi. Tôi không hề chống dân tộc tôi”, lời của Nguyên Kha đã khẳng định thế thượng phong của công lý và chính nghĩa trước sự chà đạp lên pháp luật của những thủ đoạn vu khống, lừa mị và tàn ác nhưng hết sức vụng về và mong manh!

Chỉ có một điểm khác, một điểm khác đau đớn và xót xa, oái oăm và uất ức là những lời đanh thép đó không nói trước tòa án của thực dân cướp nước, lại nói với tòa án của một nhà nước nhân danh là “của dân, do dân và vì dân” mà xương máu của bao thế hệ Việt Nam cha anh của thế hệ trẻ hôm nay đã đổ ra để có nó, nhưng rồi hôm nay kết án Phương Uyên, Nguyên Kha lại là một tòa án của chế độ toàn trị phản dân chủ, phản nhân dân .

Bằng bạo lực và những công cụ quen thuộc của cường quyền nhằm khuất phục ý chí, nguyện vọng và sức phản kháng quyết liệt của tuổi trẻ, phiên tòa đáng xấu hổ ở Long An và những người giật dây cho những “rô bốt” ngồi ghế quan tòa đã không lường được bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh của hai sinh viên, một nữ, một nam tuổi đời còn rất trẻ. Có thể nói, đó cũng là bản lĩnh và trí tuệ của tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại của nền văn minh mới với cuộc cách mạng thông tin mà chuẩn mực chính là sự thay đổi.

Không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được dòng thác của những biến động trong một thế giới không ngừng vận động mà kiểu tư duy tuyến tính tỏ ra bất lực và lạc hậu với tiến trình phi tuyến tính với những bước hợp trội nhằm tạo ra những đột phá không sao lường trước được. Sinh lực của tuổi trẻ đã đem lại cho họ khả năng nắm bắt được nhịp sống của thời đại để họ có thể vụt lớn lên, đủ sức đương đầu với mọi thử thách, đẩy tới sự phát triển của đất nước.

 Hình ảnh sáng ngời của họ, tiếng nói dõng dạc của họ khác nào một tiếng sét giữa bầu trời u ám báo hiệu một cơn dông bão của lòng phẫn nộ đang dâng lên. Phẫn nộ của công luận xã hội về một bản án phi lý và bất công phơi bày đường lối sai lầm nhân danh ý thức hệ để biện hộ cho thái độ ngang ngược, xảo quyệt của Trung Quốc xâm lược. Phẫn nộ của giới trẻ tràn đầy xung lực muốn hiến dâng sức trẻ của mình cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc đang bị ngăn chặn, trấn áp và khủng bố dưới nhiều hình thức đê hèn và xảo trá. Phẫn nộ của giới trí thức đang ưu tư về vận nước, hiểu rõ đất nươc đang bị tụt hậu ra sao do duy trì quá lâu một mô hình thể chế lạc hậu phản dân chủ.

Càng xấu hổ và tệ hại hơn nữa khi cáo trạng nhân danh luật pháp luận tội các sinh viên yêu nước đã “nói những điều không hay về Trung Quốc”, phơi bày quá lộ liễu sự mờ ám trong việc câu kết với kẻ thù xâm lược bằng những cam kết dại dột về “giữ gìn tình đoàn kết hữu nghị” với tập đoàn hiếu chiến Bắc Kinh đang thè cái lưỡi bò ham hố và bẩn thỉu mưu toan liếm trọn Biển Đông, ngang nhiên hoành hành trên vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của tổ quốc. Trước phản biện quyết liệt của luật sư, tòa phải chống chế rằng truy tố các sinh viên không phải vì hành vi khẩu hiệu chống Trung Quốc để rồi buộc phải rút bỏ cáo buộc ê chệ và nhục nhã đó!

Trên cái nền của sự rút bỏ bất đắc dĩ cáo buộc dại dột ấy đã nổi rõ lên dòng chữ viết bằng máu của cô nữ sinh viên Phương Uyên chống Trung Quốc xâm lược. Màu máu đỏ của trái tim yêu nước của cô gái Việt Nam kiên cường và xinh đẹp ấy mạnh hơn bất cứ loại vũ khí nào. Sức vẫy gọi của khẩu hiệu viết bằng máu ấy nối liền với truyền thống quật cường của ông cha ta từng khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát” thể hiện khí phách hiên ngang trước một kẻ thù từng làm bằng địa nhiều vùng lãnh thổ từ Á sáng Âu để rồi đánh cho chúng tan tác, không chỉ một mà là ba lần trong ba thập kỷ nửa sau thế kỷ XIII. Sức vẫy gọi của khí phách ấy sẽ vượt qua mọi rào cản được dựng lên khắp nơi nhằm ngăn chặn sức lan tỏa của tinh thần yêu nước “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” như Hồ Chí Minh đã từng viết.

Và cô gái mảnh mai ấy ngẩng cao đầu trước vành móng ngựa cường quyền phản dân chủ dõng dạc nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh : “Một năm bắt đầu từ mùa xuân, con người bắt đầu từ tuổi trẻ”. Để rồi hiên ngang tuyên bố : “Tôi là sinh viên có lòng yêu nước. Nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì mọi người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước”. Đấy là một lời cảnh báo đanh thép của một cô gái từng bị đọa đày trong tù ngục không thiếu những thủ đoạn xấu xa nhằm lung lạc tinh thần và hành hạ thể xác, song đã không những không gục ngã mà còn sáng suốt chỉ ra được hệ lụy của những sai lầm không thể biện hộ của bạo quyền phản dân hại nước.

Không gì mỉa mai hơn ngày cô sinh viên yêu nước dũng cảm chống xâm lược ấy ra tòa để nhận lĩnh bản án khắc nghiệt cũng là ngày bắt đầu của lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông mà nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố, một hành động ngang ngược xúc phạm đến lòng tự  tôn dân tộc, đòi hỏi phải dấy lên mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm của mỗi người Việt Nam có lương tri, đặc biệt là của thế hệ trẻ. Và có lẽ phải nói thêm : ngày này cũng là ngày người ta long trọng trao giải thưởng sáng tác “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ“, không hiểu trong những sáng tác được trao giải ấy có nhắc đến điều cốt lõi nhất phải học tập và làm theo chính là ý chí “Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì chúng ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi”. Ở điểm cốt lõi này thì ai? Người vừa bị kết án tù do hành động yêu nước quyết “chiến đấu, quét sạch” quân xâm lược, hay người ngoan ngoản chăm chút trên trang giấy những lời tụng ca quen thuộc, cần được tôn vinh?

Bản án dành cho Phương Uyên và Nguyên Kha chính là bản án đối với truyền thống dân  tộc yêu nước chống ngoại xâm, cũng là bản án đối với khát vọng dân chủ và quyền con người đang là một đòi hỏi bức xúc của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của thế hệ trẻ Việt Nam. “Bản án này cho thấy sự phá sản của thành tích nhân quyền của Hà Nội. Trong khi nhà cầm quyền Việt Nam nói họ hành xử theo luật pháp và tôn trọng nhân quyền thì các bản án này chứng tỏ họ chỉ hành xử theo quyền lợi của đảng cộng sản cầm quyền, bất chấp quyền căn bản của con người bị chà đạp” như tổ chức Human Rights Watch cáo buộc.

Sự phẫn nộ dâng trào với bản án bất công, kết tội lòng yêu nước chống ngoại xâm, phản dân chủ, chà đạp lên quyền con người đang kết thành một làn sóng mà sức lan tỏa của nó sẽ vô cùng rộng lớn.  Khi phong trào dân chủ gắn làm một với tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, sẽ hình thành những bước hợp trội, tạo ra những đột phá như đã nói ở trên, đẩy tới những chuyển biến không thể tiên liệu được!

Kết thúc “Ngục trung nhật ký” có câu “Sự vật vần xoay đà định sẵn, Hết mưa là nắng hửng lên thôi.”. Quả có thế thật, nhưng hình như những ngày tháng năm nóng bỏng  này lại đang báo hiệu những cơn dông! 

T.L.

18 thg 5, 2013

Ta khóc vì tự hào, cũng vì hổ thẹn

AFR Dân Nguyễn
Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, các con yêu quý!
         images
          Hãy cho phép ta được gọi các cháu như vậy được không. Ta gọi vậy, nếu có xứng đáng, cũng chỉ bởi ta đáng tuổi cha chú các con, và bởi đồng cảm, đồng tình về những việc các con làm, ta cảm phục và tự hào về các con nhiều lắm; Còn về tấm lòng với non sông đất nước, với dân tộc, và nhất là về lòng dũng cảm, thì ta tự nhận thấy chưa xứng đáng gọi các con như vậy đâu!
          Ta, thế hệ cha chú các con đã làm được gì cho chính các con, cái thế hệ mà, cũng ở tuổi các con thôi, những thanh thiếu niên ở những nơi khác trên thế giới này, chúng không phải trăn trở về vận mệnh non sông, cũng không phải để tâm vào những vấn đề chính trị bẩn thỉu. Chúng đến giảng đường học, giao lưu, chơi thể thao, đi picnic cuối tuần, và đi du lịch khám phá…
          Ta cứ ngỡ rằng, công trạng ta lớn lắm, là tấm gương sáng lắm cho các con học tập và làm theo…
          Bời vì ta và thế hệ cha ông các con đã tự mình tự hào về thành tích vẻ vang đánh thắng hai đế quốc to.
          Bởi vì ta và thế hệ cha ông các con tự mình tự hào, hãnh diện rằng, đã góp công làm nên, và xây dựng và ra sức bảo vệ cái nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
          Bởi vì ta và cha ông các con vẫn luôn tự hào vì có đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, “người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”, là “Đỉnh cao trí tuệ của loài người”, nguyện trung thành tuyệt đối với cái “Đỉnh cao trí tuệ” ấy, nguyện đặt mình dưới sự dẫn đường chỉ lối bởi cái đảng quang vinh ấy.
          Nhưng khi ta ngộ ra rằng, ta và thế hệ của ta đã hy sinh xương máu, để thu giang sơn về một mối, cũng là lúc làm lòng người chia ly…thì ta đã làm gì?
          Nhưng khi ta ngộ ra rằng, trong vườn ươm Dân tộc, ta và thế hệ cha ông các con đã ươm, đã vun tưới chăm sóc một loài cây, để rồi tới ngày nó vươn cao, tàn tán xum suê, thay vì ra trái ngọt cho đời, nó lại ra trái đắng…thì ta đã làm gi?
          Nhưng khi ta ngộ ra rằng, chính thế hệ ta đã và đang là thủ phạm gây nên Thảm Họa cho dân tộc, một thảm họa có thể nói tệ hại nhất trong lịch sử dân tộc, tệ hại hơn cả thời Trịnh Nguyễn phân tranh, bởi thời Trịnh Nguyễn chỉ là cuộc chiến tương tàn, nồi da xáo thịt, còn thế hệ ta, ta lại góp công ” hun đúc” dân tộc này bằng ý thức hệ, bằng một chủ thuyết  sai lầm…thì ta lại chọn cách lặng câm, tự huyễn hoặc mình, tự chui vào hầm trú ẩn…
          Ta vẫn cố tình làm ngơ khi tàu lạ nghênh ngang cày xới trên vùng biển quê hương, bắt nhốt, đánh đập ngư dân mình.
          Ta vẫn làm ngơ, không cật vấn những kẻ ra lệnh cho lũ đầu trâu bắt nhốt, đàn áp những người biểu tình yêu nước, chống bọn bá quyền xâm phạm trắng trợn vùng trời vùng biển thiêng liêng của Tổ Quốc.
          Ta vấn cố tình làm thinh khi biết bao người nông dân khốn khổ- đồng bào mình bị cướp đất, bị phá nhà mà không biết kêu oan, chỉ vật vã kêu Trời…
          Ta vẫn lạnh lùng khi nghe những bản tin thời sự hằng ngày, mà ở đó đầy những tin cướp giật, hãm hiếp, thờ ơ và vô cảm hệt phát thanh viên thời sự đọc tin 2 trẻ em chết vì ngộ độc bánh ngô, 3 trẻ chết vì một tai nạn giao thông, 4 trẻ em chết vì đuối nước…
          Ta cũng thờ ơ khi nghe tin “Đinh tặc lại rải đinh”…, lâm tặc lại phá rừng…dù biết rằng, không đâu trên thế gian này, dù ở những quốc gia nghèo đói nhất cũng không thể sản sinh ra lũ đinh tặc, và ta biết đó chính là sản phẩm mang nét đặc trưng của riêng quê hương VN, mà không suy nghĩ thêm về hiện tượng này, thử đặt một câu hỏi, liệu đinh tặc sản sinh từ truyền thống dân tộc, hay chỉ là một biểu hiện cụ thể của tính cách con người mới xã hội chủ nghĩa.
          Ta cũng không dành nhiều thời gian để suy tư về hiện tượng bà mẹ đau yếu treo cổ tự tử, để…dành tiền cho con học, để giải thoát gánh nặng cho chồng con gia đình…
          Ta quá biết cái xã hội ngày nay là thành quả chính ta và thế hệ cha ông các con đổ xương máu, cùng chung tay xây đắp và vẫn đang gìn giữ mấy mươi năm qua.
          Cái xã hội mà người bệnh, cả bệnh nhi phải chui vào gầm giường bệnh trong mùa hè ngột ngạt, nằm chờ tiêm thuốc, thăm khám, vì không đủ chỗ trên giường, trong khi bệnh viện sẵn có phòng “tự chọn” cho bệnh nhân với giá cao hơn giá phòng khách sạn 3, 4 “sao”, từ 5 trăm tới 7 trăm ngàn đồng một ngày đêm- một hình thức kinh doanh kiếm tiền dễ hơn trở bàn tay, không phải quảng cáo, khỏi cần khuyến mãi hay tiếp thị.
          Cái xã hội mà ngành “trồng người” chính là nơi hành hạ cả học sinh lẫn phụ huynh bởi những khoản chi phí hươu vượn, nhưng luôn được hợp thức hóa dưới nhiều chiêu trò, là nơi gieo rắc thói hư tật xấu, phô bày ra cách nói dối và ngụy biện đầu đời cho trẻ em chập chững đến trường, và nối dài đến khi các em trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước…
          Cái xã hội mà ở đó, người muốn hối lỗi cũng không được, bèn là bị quàng cho cái tiếng xấu “Trở cờ”. Người yêu nước bị chụp mũ phản động.
          Cái xã hội mà ở đó, nền chính trị tha hóa tới mức quan lại thả sức nói, muốn sao lên vậy, thả sức làm sai, thậm chí gây gội ác, mà chỉ cần kèm theo câu xin lỗi (không thật tâm) là xong- Một nền chính trị tới mức có thể tóm gọn trong một câu “Nói dzậy mà không phải dzậy”
          Một nền chính trị mà ở đó quan lại từ trung ương tới địa phương lấy việc chia bè kết đảng làm kế hoạch, lấy việc đấu đá nhau, “cho nhau ăn bùn” làm nghị quyết bất thành văn…

 Các con!
 
          Ta không dám nói rằng mình đang khóc khi viết những dòng này gửi tới các con, vì các con có lý do kết tội ta đang nhỏ những giọt nước mắt cá sấu.
          Xét về tất cả, từ tư tưởng, tình cảm, cho đến di sản, tài sản đất nước, từ thượng tầng chính trị thối tha, đến hạ tầng kinh tế vỡ nát, từ nền “trồng người” hỏng bét mang tính hệ thống, đến nền “cứu người” đã “xuống cấp” đến mức thành “nan y”, từ một quá khứ trọn vẹn đau thương mất mát đến hiện tại bẽ bàng, và một tương lai mờ tối…các con, phải, chính các con có quyền trách cứ, lên án ta và thế hệ cha ông các con.
          Ta và thế hệ ta, những cha ông các con biết rằng hối lỗi bây giờ là quá muộn, để các con bị lạc mất trong rừng thẳm thâm u, mà những đường mòn cũng không còn vì cây dại đã mọc trùm che lấp lối đi.
          Càng ngẫm càng đau. Càng thương càng xót!…
          Nhưng các con là những “Chú bé Tý Hon”, thông minh, lanh lợi, đã biết tự cứu mình, cứu được cả cha mẹ.
          Các con đã tìm được đường ra, trong cái rừng già thâm u ấy, nơi mà chính cha ông các con cũng bị lạc mất…
          Sáu năm tù, hay tám năm trong chốn ngục kia- mấy ngàn ngày họ vùi dập các con trong bóng tối và đọa đày…
          Kết án các con, nặng nhẹ, ấy là quyền của họ.
          Không có tội, họ còn bẻ thành có tội, thì việc họ khoác lên cổ các con cái tròng sáu năm, tám năm tù, đâu có gì lạ.
          Nhưng đó là ý chí của họ, là cách làm của họ- là người tính.
          Cho dù họ không ăn năn vào một ngày nào đó về bản án phi lý mà họ tròng lên vai các con, không có nghĩa các con hết hy vọng vào một ngày sớm hơn cái hạn sáu năm, hay tám năm kia, các con được nhìn ánh mặt tròi rạng chiếu vào buổi sớm bình minh trên quê hương mình.
          Còn Trời tính nữa! Chúng ta được phép hy vọng điều đó chứ. Tại sao không?
          Nhìn Phương Uyên cười, ta dám chắc, không người có lương tri nào lại không cảm phục; Nhìn con cười, không một người làm cha làm mẹ nào không mỉm cười rơi lệ trong niềm tự hào dâng trào đến nghẹn ngào.
          Không làm gì tiếp theo đây để rút ngắn đêm trường trong lao ngục cho các con, chính là chuỗi tội lỗi của hết thảy thế hệ cha ông các con tiếp tục dài thêm.
          Làm sao có thể nói các con có tội chỉ với cái khẩu hiệu phản đối kẻ xâm lược, trong lúc mà có kẻ chễm trệ trên chiếc ghế quyền lực đòi xóa sổ một quốc gia ở xa lắc cuối trời, không gây thù chuốc oán cho VN, thì không sao!?
          Làm sao có thể kết án các con có tội, khi các con chỉ bày tỏ một nguyện vọng chính đáng là nguyền rủa cho bầy sâu cắn lá đục thân phá hoại mùa màng kia chết hết đi, và muốn đào phá bỏ đi cái hang hố nơi ẩn nấp và nuôi dưỡng bầy sâu…
          Làm sao bảo các con manh động, khi mà đứng trước vành móng ngựa của bạo quyền, các con hiên ngang, tự tin, không một biểu hiện của run sợ? Các con đã cho cả thế giới thấy dáng vẻ hiên ngang, nụ cười đẹp như thiên thần của các con!
          Ta ghen tỵ với cha mẹ các con, những người sinh thành các con, vì ta không có được niềm tự hào to lớn như họ, mà chỉ có niềm tự hào nhỏ nhoi vì tự cho mình cái quyền là bậc cha chú các con.
          Nhưng họ- cha mẹ các con xứng đáng hưởng niềm tự hào lớn lao đó, bởi công dưỡng dục của họ.
          Mỗi khi nhìn nụ cười đẹp thiên thần của các con, ta lại buồn rầu mà liên hệ tới những lo lắng ích kỷ của những đứa con ta, với những lo lắng, toan tính cho bố mẹ, với những can ngăn khi thấy ta thở dài về chế độ này: “Mặc kệ chúng nó. Cứ để chúng nó gây nhiều tội ác cho chúng chóng sụp đổ. Bố chẳng làm gì được với cái xã hội đen xã hội đỏ này đâu…”. Thậm chí mỗi khi ta nghe thời sự, gặp lúc đồng chí ủy viên này phát biểu, đồng chí bí thư kia đọc diễn văn, chúng giằng ngay cái remote control trong tay ta mà dứt khoát chuyển kênh, với vẻ hậm hực: Tại sao không tìm kênh thể thao, du lịch mà xem mà bố cứ nhẫn nại nghe chúng nó nói. Thấy chúng nó làm chưa đủ tin hay sao…
          Ưh, nói về tin, ta liệu có được phép tin rằng, ngày các con ra khỏi chốn lao tù sẽ không là cái hạn của sáu năm, tám năm kia?
          Bởi vì ta tin rằng, ngay kẻ vừa gõ búa tuyên bản án kia, trong thâm tâm cũng nguyền rủa cái thể chế này lắm, muốn vứt cái búa quan tòa trong tay đi lắm, “nhưng kẹt nỗi các con khuyên…?”. Không tin hãy nhìn ánh mắt ông ta nhìn các con- những thiên thần tự chắp cánh.
          Bởi ta cũng tin rằng, trong cái đảng hư hỏng trầm trọng này, còn nhiều người có lương tri. Họ im lặng chờ thời cơ, hoặc họ chưa đủ can đảm để vượt lên trên nỗi sợ hãi đó thôi…
          Bởi ta tin rằng cái đảng này hư hỏng, cũng bởi cái căn nguyên gốc là do cái chủ nghĩa, cái tư tưởng bắt bỏ tù họ đó thôi.
          Dù trong hoàn cảnh nào, xin các con cứ giữ mãi nụ cười tỏa sáng kia nhé. Các con có biết các con đang là niềm tự hào của thế hệ trẻ VN hôm nay không?
          Các con có biết cả đất nước đang tự hào về các con không?
          Các con không đơn độc trong cuộc đấu tranh này. Mọi người đang sát cánh bên các con!…
          Ta tự hào về các con!

Tác giả gửi QC 
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Dáng đứng Uyên, Kha

Trần Quốc Hưng

nguyenphuonguyen-dinhnguyenkha-toaan-danlambao
Các em đứng như cây măng mọc thẳng
Trong áo trắng tinh khôi, nét mặt tươi ngời
Vóc dáng nhỏ nhưng đời đời kiêu hãnh
Tạc vào lòng nhân dân sừng sững những CON NGƯỜI.

Các em nhé, đừng bao giờ buồn hết
Tuổi trẻ các em giờ đã của muôn người
Thân thể các em dù giam trong lồng sắt
Tinh thần các em đang bát ngát giữa đời.

Các em có tội gì, tội chống quân xâm lươc?
Tội các em đấy ư, tội yêu nước thương nòi?
Nhìn các em non tơ, trắng trong đến thế
Tự hào dậy trong lòng, sao nước mắt tôi rơi

Tác giả gửi Quê choa

Choa - dân 37

        Người Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh giờ bị kỳ thị. Đi đâu cũng thấy người ta nói ghét dân Thanh Nghệ Hà, cầm hồ sơ xin việc mà giọng điệu, cái hộ khẩu ở vùng này thì coi như trượt rớt từ vòng đầu.
          Thanh - Nghệ - Hà mà thực chất là hai xứ Thanh, Nghệ (tức là hai vùng đất có những khu biệt về Văn hóa). Trải khoảng ngàn năm tạo dựng, đi kèm theo đó là những tương đồng và dị biệt về lịch sử, văn hóa hình thành nên cốt cách, tâm tính con người.

Khu biệt văn hóa.
          Thanh - Nghệ được ví như Việt Nam thu nhỏ. Cái gì Việt Nam có thì Thanh - Nghệ cũng có. Lịch sử hai vùng này ước chừng trên ngàn năm, nghĩa là tương đương với lịch sử Việt Nam (từ Ngô Vương lập quốc đến giờ). Dân số ước chừng trên 8 triệu người, bằng gần 10% dân số Việt Nam.
          Cả hai xứ đều là biên thùy trọng trấn của Vương quốc Đại Việt khi xưa. Là đất căn bản đế vương, Thanh - Nghệ quan trọng đến nỗi: Thanh Nghệ còn, Quốc gia còn, Thanh Nghệ mất Quốc gia mất.
          Có ít nhất hai vương triều, hai nhà Chúa mà gốc tích là từ Thanh Hóa - người "làm vua" gần đây nhất mà xứ Thanh có được là ông Lê Khả Phiêu (nguyên TBT BCH Trung ương Đảng CSVN). Văn thần võ tướng xứ Nghệ bạt ngàn. Bắc sông Lam thiên về võ tướng, nam sông Lam thiên về văn thần.
          Cụ Hồ cũng là người xứ Nghệ (nguyên gốc Quỳnh Lưu).
          Trên khắp cõi Việt Nam đâu đâu cũng thấy mồ tử sỹ Thanh Nghệ. Nghĩa trang Trường Sơn phần lớn là tử sỹ Thanh - Nghệ. Chiến trường phía Bắc, hồi chống Tàu 1979 - 1984, lính Thanh kiên cường, quật khởi đánh cho người Tàu bạt vía.
        
       Không phải đương nhiên mà sân Vinh được gọi là cái Chảo lửa. Người Nghệ mang cái bản sắc Choa dân 37 làm nên cả chảo lửa sân Vinh ở ngay Mỹ Đình.
          Nhiều nhân vật lẫy lừng của Việt Nam từ quãng năm 30 trở lại đây có cái gốc chung Thanh Nghệ. Yếu tố lịch sử như thế vô hình chung khiến người Thanh - Nghệ tự bản thân đã mang cái tính ương ngạnh, kiêu hãnh và trịch thượng.
          Loạn kiêu binh thời Lê mạt cũng bởi binh tướng túc vệ người Thanh Nghệ.
          Trong một cơ quan, dù nhỏ mà có hai người Thanh Hóa ngồi tương đương vị trí thì tất mất đoàn kết. Căn nguyên rất đơn giản, người Thanh Hóa tính hãnh tiến, có máu làm thủ lĩnh, làm lãnh đạo và không chịu kém người.
  
Gềnh đá sông Mã, photo by Sông Hàn
          Người xứ Thanh, thân ai làm người ấy chịu, hành xử theo cái kiểu anh cả nhưng cũng thiếu phần bao dung, thiếu hẳn phần khiêm hòa. Người xứ Nghệ thì cố kết cộng động cao, sẩy việc cả nhóm cùng đứng ra gánh vác, người Nghệ phần nào có sự bao dung hơn người xứ Thanh.
          Nhưng ngay ở Nam - bắc sông Lam cũng có sự phân cách. Người Nghệ An luôn tự thị là anh, tính cố chấp, trịch thượng cao hơn hẳn. Người Hà Tĩnh mềm dẻo hợp thời hơn. Đất chật, người đông, chiến tranh tàn phá, thiên nhiên không ưu đãi, vô hình chung khiến người Thanh - Nghệ trở nên cần kiệm, chắt chiu.
          Núi sông, thời tiết xung khắc mãnh liệt khiến người hai xứ này chênh vênh giữa trạng thái tốt và cực đoan. Cần kiệm thì đến mức chi li bủn xỉn, đoàn kết thì đến mức thái quá. Lại bảo thủ, ương gàn, chậm thích ứng với cái mới.
          Điều tệ hại hơn cả là người Thanh - Nghệ dường như có máu làm chiến binh, không chịu khuất, không chịu nhún ai bao giờ. Có doanh nghiệp Hàn Quốc về Nghệ An đầu tư nhà máy may thế mà lao động đi làm cứ gắn tai phone rồi gật gù (theo tiếng nhạc), chủ xưởng bảo mãi không chịu bỏ đi. Rồi đó lao động từ Nam về, xin đi làm lại lại so sánh lương giữa hai chỗ làm rồi nói ở đây trả thấp thế là xúi bãi công khiến chủ xưởng phát hoảng.
          Cả cái nhà máy mấy ngàn công nhân rốt lại toàn làm chậm tiến độ, hàng đem ra bị trả về. Ông chủ phải dồn 5 nhà máy ở các KCN phía Bắc lại hỗ trợ mới xong.
          Có bận mình ngồi nói chuyện với ông Cao Văn Vĩnh, Giám đốc sở Văn hóa Nghệ An, ông bảo: "Tình xứ Nghệ quen lâu" vấn đề là trong thời buổi này bao giờ thì người ta quen được mình. Lâu quá không được, y như cô gái cứ chờ để về nhà chồng vậy, lâu sinh ra mỏi mệt". Còn ông Phan Thanh Tịnh, Giám đốc sở Công thương tỉnh thì bảo: "người mình cần cù chịu khó nhưng lại không khéo, tính người Nghệ cũng không thuần"
          Nói thế để biết rằng người Thanh - Nghệ có những cái nhược điểm cố hữu của mình. Mà nhược điểm cao nhất là cái tôi quá lớn cái tôi cả cá nhân và cái tôi của khu biệt văn hóa, ghét bị sai khiến. Và họ cũng hiểu về điều đó!
          Tất nhiên ta có thể hỏi làm thế nào để người Thanh Nghệ bớt bị kỳ thị?

Cần hiểu.
          Rất khó để ngày một ngày hai, người hai xứ này bớt đi cái nhược điểm của mình, vậy chỉ còn một cách là phải biết chấp nhận chính nó. Mà muốn chấp nhận thì phải hiểu đặc tính Thanh Nghệ. Hò sông Mã cao ngạo, thanh âm như đục thẳng vào lỗ nhĩ. Ví giận thương trữ tình sâu lắng. Hai cái đó là cốt cách Thanh Nghệ.
          Tất cả phần nổi của đặc tính Thanh - Nghệ, tất cả những cái xấu của tâm tính người Nghệ An - Thanh Hóa ai cũng thấy rõ còn cái tốt thì bị khuất lấp, rất khó để tiếp cận.
          Thế tính tốt của Thanh Nghệ là gì? Xin thưa nó cũng nằm một phần trong những mặt xấu của Thanh - Nghệ: tính cương cường quyết liệt, không chịu nhún nhường. Ở một cơ quan, một doanh nghiệp mà biết tận dụng và khơi dậy cái đặc tính này, cố kết nó trong khuôn chung thì rất khó có đối thủ cạnh tranh nào vượt lên được họ. Nói cách khác doanh nghiệp đó có thể vượt lên mọi khó khăn, trở ngại.
          Thứ nứa khi người Nghệ đã tin, đã yêu thì tất dốc lòng hết sức, tận tụy, nhiệt tâm làm việc. Tính trung thành là điều không thiếu ở người Nghệ, tính quyết liệt là điều không thiếu ở người Thanh. Người Nghệ đói no có nhau, anh em sống chết làm việc, không (hoặc hiếm khi nào) bội phản hoặc chạy theo tiếng gọi của lợi ích riêng mình mà bỏ rơi cộng đồng
          Dân hai xứ này đều rất khó khăn về mặt kinh tế, gia cảnh, sự cần cù chịu khó chịu khổ là không thiếu. Nhưng đây là đất học, người thành danh rất nhiều, nên sử dụng lao động Thanh - Nghệ - Hà cần phải đặc biệt thấu hiểu văn hóa của họ, trọng thị họ để họ thấy mình được coi trọng, có chỗ đứng trong doanh nghiệp. Còn ngược lại chỉ mang lòng kỳ thị thì tất tâm lý đối kháng (ghét giàu, ghét ông chủ) sẽ có đất để trỗi dậy. Đến lúc đó không có nhiều chỗ cho việc thương lượng, thấu hiểu lẫn nhau.
          Về phía Thanh - Nghệ, cái đào tạo lao động là khâu yếu khuyết nhất, phần đa lao động đi vào Nam hay ra Bắc đều từ đồng ruộng mà ra (tính làng xã, tư tưởng tiểu nông vẫn rất cố hữu). Cả ba tỉnh (Thanh - Nghệ - Hà) đều chưa bao giờ nói những điều mà người lao động của mình cần và phải hiểu.
          Họ có thể đào tạo tay nghề nhưng lại thiếu hẳn đi đào tạo kỹ năng và cung cách ứng xử. Tức là cứ thả nổi cho người xứ mình tự bươn chải với đầy đủ tính xấu theo kiểu tự sinh tự dưỡng. Như thế cũng rất khó cho doanh nghiệp.
          Cái chè xanh của xứ Nghệ, hay cả xứ Thanh cũng vậy với người ngoài, rất chát, rất dẳng nhưng uống lâu sẽ nghiền vấn đề là phải chịu uống (nghe rất khó) và người bán chè phải biết cách tiếp thị.

@bài của ku Hàn, giám đốc Trâu Qùy trại, kiêm hiệu trưởng Xã Đàn trường.