7 thg 8, 2012

Mĩ tục

(tạp bút của Phạm Lưu Vũ)                        
     “Mĩ tục” là tục... của Mĩ – thơ Lý Đợi. 
   
  Câu chuyện này rút trong ghi chép của một khách du lịch. 
  Cụ Cả Lễ, người cao tuổi nhất làng Kinh vốn được coi là một bộ bách khoa toàn thư sống của cả làng. Khách nghe tiếng tìm đến cụ như tìm đến một địa chỉ văn hoá cuối cùng còn sót lại. Chờ cho cụ an tọa, khách lễ phép cất tiếng hỏi:
 “Làng ta vẫn giữ truyền thống là một làng văn hiến đấy chứ, thưa cụ?”
Cụ Cả Lễ râu tóc bạc trắng như một ông tiên, ngước đôi mắt kỉ hà nhìn khách hồi lâu, đoạn chậm rãi trả lời:
“Việc ấy anh đi mà hỏi ông chủ tịch. Lão đây không dám giả nhời.”
Khách thoáng ngạc nhiên, bèn chuyển sang đề tài khác:
“Nghe nói cụ biết rất nhiều sự tích của làng...?”
Cụ Cả Lễ vẫn chậm rãi, đôi mắt nhìn xa xăm tận đâu đâu:
“Cái đó tuỳ duyên thôi. Sự tích cũng tuỳ duyên mà có...”
Cụ vừa nói đến đấy thì có đứa cháu chạy đến xin cụ chùm chìa khóa nhà xí để đi... ị. Khách ngạc nhiên quá, bèn hỏi ngay:
“Nhà xí mà cũng phải khoá ư, thưa cụ?”
“Ấy đấy, cái “duyên” nó đến rồi đấy - cụ Cả Lễ bảo khách – Phải khoá chứ. Thậm chí phải bí mật để đề phòng kẻ xấu ăn trộm. Làng này có tục đi ỉa phải giấu cứt. Người đi nhiều như anh mà cũng chưa bao giờ nghe nói đến hay sao?”
Đến đây thì khách kinh ngạc thật sự. Chẳng lẽ làng này là truyền nhân của... giống mèo cả hay sao mà lại có cái “tục” kì lạ như vậy. Té ra cái gì cũng có sự tích của nó cả. Sau đây là câu chuyện kể của cụ Cả Lễ:
Kể rằng thiền sư Căng Lulu vốn người làng Kinh, tên tục gọi là Ngục Văn, hồi bấy giờ làng này còn có họ Ngục. Căng Lulu là pháp hiệu. Ngài xuất thân trong một gia đình trưởng giả. Bình sinh lúc nào cũng xe ngựa rình rang, tấp nập kẻ hầu người hạ, ngày ngày toàn ăn thịt cá, lại hưởng không thiếu gì lạc thú trên đời. Bỗng một hôm thời thế đổi thay, gia tài dần dần khánh kiệt, kẻ hầu người hạ bỏ đi hết cả. Từ đó chỉ còn biết ăn rau cỏ qua ngày. Ngục Văn phẫn chí bèn bỏ làng ra đi, sang tận bên Tàu, tìm đến thiền sư Triều Châu xin học đạo. Các đệ tử của sư thấy Ngục Văn toàn thân tróc ghẻ, người ngợm hôi hám có ý không ưa, xui sư đuổi đi. Sư nói:
“Cứ gì hôi hám. Hễ có duyên thì khắc ngộ được đạo”
Các đệ tử hỏi vậy Ngục Văn có duyên gì? Sư đáp:
“Duyên đọc được bụng dạ của kẻ khác”
Rồi cho xuống tóc, đặt pháp hiệu là Căng Lulu. Song mấy năm trời không thấy sư nhìn ngó gì đến, cũng không hề giảng cho một câu, chỉ cho phép cắp tráp theo hầu như một chú tiểu. Một hôm thầy trò đang đi đường, Căng Lulu chợt nhìn thấy một con trâu đang ỉa bãi phân to tướng, trong lòng bỗng nổi tâm cơ, bèn buột miệng hỏi:
“Thưa... Phật pháp là cái gì vậy?”
Sư hỏi lại:
“Ngày trước ngươi toàn ăn thịt cá, vậy ngươi ỉa ra cái gì?”
“Ỉa ra cứt” – Căng Lulu trả lời ngay.
“Thế lúc chỉ ăn rau cỏ, ngươi ỉa ra cái gì?” – Sư hỏi tiếp.
“Cũng... cứt” – Căng Lulu ngập ngừng.
“Pháp đấy! pháp đấy” – Sư nói liền hai tiếng.
Căng Lulu hoát nhiên đại ngộ.
Tự bấy giờ các quán đều thông, bốn tướng hợp một, trí huệ rực rỡ, Căng Lulu trở thành thiền sư. Ngài bèn tìm về làng cũ, lập một chiếc am nhỏ ở đầu làng, hàng ngày đọc kinh, thiền định... rồi “hoá” ngay tại đó. Lâu dần cỏ dại trùm kín, nơi có chiếc am của thiền sư trở thành hoang phế. Một hôm có anh đánh dậm đi qua bỗng nổi cơn đau bụng, bèn chui vào giữa chỗ ấy ỉa một bãi. Tối hôm đó về nhà, đang ngủ, anh đánh dậm bỗng thấy một bóng người bước vào nhà bảo:
“Ngươi sắp bị mọc một khối u ở trong bụng mà chết. Hãy uống một bát nước ở cái giếng chỗ ta thì sẽ khỏi...”
Anh đánh dậm không tin, bèn hỏi lại:
“Làm sao ông biết?”
“Xem cứt ngươi ta biết” – bóng người kia trả lời. Nói xong biến mất.
Anh đánh dậm toát mồ hôi, giật mình tỉnh dậy. Hoá ra một giấc mơ. Chợt nhớ đến việc ỉa bậy lúc ban ngày, anh chàng trong bụng cũng thấy hơi hoảng song vẫn nửa tin nửa ngờ. Khoảng tháng sau, anh ta cảm thấy có cục gì cứ chướng lên giữa bụng, ăn uống không tiêu được. Cái cục cứ lớn dần, lớn dần, đến nỗi bụng trương phềnh lên, cứng ngắc, từ đó chỉ còn nằm một chỗ, không đi lại được nữa. Vợ con anh ta bán cả đồ đạc, lợn gà, mời hết thầy thuốc này đến thầy thuốc khác. Song ai cũng lắc đầu, nhất loạt bảo anh chàng sắp chầu ông bà ông vải đến nơi.
Về phần anh đánh dậm, từ khi bị mọc cái u trong bụng thì biết rằng mình đã ỉa bậy vào chỗ thiêng nên bị thánh vật. Vì thế cứ cắn răng chịu đựng, không dám nói cho vợ con biết. Bấy giờ mười phần đã chết đến chín rưỡi, anh ta mới phều phào kể lại cho vợ nghe về giấc mơ hôm trước. Người vợ nghe xong lập tức tìm đến chỗ đã từng có cái am. Phát cây vạch cỏ mãi, quả nhiên có một cái giếng nhỏ sâu hút, nước trong vắt. Bèn múc đại một bát đem về cho chồng uống. Cũng chỉ là cầu may thế thôi. Không ngờ bát nước quả nhiên hiệu nghiệm thật. Anh chồng uống vào đến đâu thì bụng réo ùng ục đến đấy. Rồi cái khối u cứ xẹp dần. Ba ngày sau hết hẳn, lại đi lại được như thường.
Câu chuyện của anh đánh dậm chẳng mấy chốc loang ra khắp làng. Dân làng cho rằng vị thiền sư ngày trước của làng mình thế là đã hiển linh, bèn bàn nhau kẻ góp công người góp của làm một ngôi đền tại ngay chỗ đó gọi là đền “Cứt”. Thật là một cái tên độc nhất vô nhị trên thế gian này.
Tại sao lại có cái tên xấu xí như thế?
Nguyên các cụ ngày trước truyền rằng đền ấy thiêng lắm, cầu gì được nấy. Có điều đồ cúng không dùng thứ gì khác ngoài... cứt. Ai có bệnh cứ mang một đĩa cứt của mình tới, múc một bát nước ở cái giếng ấy, đem để cả hai thứ bên cạnh nhau trên bàn thờ rồi thắp hương khấn vái. Đợi cho cháy hết hương, đem bát nước về mà uống thì bách bệnh tiêu tan. Ngôi đền từ đó nổi tiếng, người thiên hạ lũ lượt tìm đến...
Song điều kì diệu nhất của ngôi đền là những người đến cúng cứt không những khỏi bệnh, mà tất cả những gì vốn giấu kín trong bụng xưa nay đều bất ngờ ứng vào miệng thiên hạ mà lộ ra hết cả. Người lương thiện thì chẳng sao, bởi chẳng có gì mờ ám phải giấu diếm. Song đối với những kẻ lưu manh, bất lương, những kẻ chuyên nghề bịp bợm thì đó quả là một đại họa. Xưa nay con người ta cứ tưởng sự thật một khi đã được giấu trong bụng thì sẽ kín như bưng đời đời. Ai dè hàng ngày nó vẫn theo đường bài tiết mà chuồn ngoài. Thế là cùng với sự chữa khỏi bệnh là khối sự thật bị phơi bày, khối mặt nạ bị rơi tuột. Khối kẻ khoác áo đạo đức té ra lưu manh, khối vị phụ mẫu chi dân té ra phường bất lương gian ác... Vả lại con người ta mấy ai không hề có chút gì mờ ám trong lòng... Vì thế người tìm đến chữa bệnh cứ thưa dần, thưa dần. Có kẻ thà chết chứ nhất định không chịu mang cứt đến cầu cúng.
Thế rồi lại sinh ra cái nghề ăn trộm cứt mang đến đền để vạch những chỗ xấu của nhau. Kẻ trên, người dưới, đồng liêu, đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng... rồi thì cả cha con, chồng vợ... cứ gọi là loạn cả lên. Cứt té ra lại là chỗ dễ làm bại lộ chân tướng nhất. Người vùng này có tục giấu cứt kể từ hồi đó. Ai cũng lo phòng xa bởi biết đâu đấy, dẫu mình không tự mang cứt đến cầu song nhỡ có kẻ khác lấy trộm, mang đến cúng thì bao nhiêu điều giấu diếm của mình cũng sẽ bị phơi bày cho thiên hạ biết hết. Mới hay cái gọi là sự thật, hoá ra lại là thứ mà con người ta luôn luôn khiếp sợ. Vì thế giấu cứt mới nhanh chóng trở thành một cái tục của cả vùng này. Giấu cứt đồng nghĩa với giấu sự thật...
Dù sao thì sự hiện diện của ngôi đền cũng là điều cảnh báo đối với những kẻ rắp tâm làm điều xấu. Làng Kinh từ đó ít hẳn sự dối trá, bịp bợm. Trẻ con được cha mẹ theo dõi, rèn cặp trở nên ngoan ngoãn, biết lễ phép với người lớn. Người lớn đối xử với nhau thân ái, chân tình, không dám hại nhau vì biết sự thật trong bụng sớm muộn gì cũng sẽ thoát ra bên ngoài. Làng Kinh có tiếng là một làng văn hiến từ đấy...
“Thế cái đền ấy bây giờ có còn không, thưa cụ?” – Khách hỏi.
“Phá rồi - cụ Cả Lễ trả lời – Phá trước tiên. Sau đó mới phá đến đình chùa. Phá từ cái hồi bắt đầu phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp kia.”
Khách ngẩn người ra tiếc rẻ. Hồi lâu lại hỏi:
“Phá đền phá đình rồi thì có ảnh hưởng gì đến văn hiến của làng không, có làm cho sự dối trá càng tha hồ hoành hành không thưa cụ?”.
“Việc ấy anh đi mà hỏi ông chủ tịch - cụ Cả Lễ vẫn từ chối khéo – lão đây chỉ biết nói với anh rằng cái tục giấu cứt thì không những vẫn còn, mà ngày nay người ta còn giấu kĩ hơn trước...”
Rời khỏi nhà cụ Cả Lễ, khách lên xe tìm đến nhà ông chủ tịch. Vừa chạy được một quãng, khách dừng xe hỏi thăm một thằng bé đang đứng thổi bong bóng bên cạnh đường lối vào nhà ông chủ tịch. Thằng bé trợn mắt nhìn khách một cái rồi ngoảnh đi, mồm nói:
“Đéo biết!”
Đành phải đi một quãng nữa, bỗng có một chiếc xe đạp nằm chỏng chơ giữa đường. Khách vội vàng đạp phanh gấp. Vừa bước ra khỏi ô tô định dẹp nó sang bên cạnh để lấy đường đi thì nghe một giọng nói gằn từng tiếng:
“Mày mà động vào cái xe đạp của ông thì ông choảng cho vỡ kính.”
Khách giật mình hướng về phía có tiếng nói. Thấy một gã trung niên đang đứng lấp ló trước cửa một ngôi quán lá, đôi mắt gã vằn đỏ, một tay lăm lăm cục đá to tướng.
Tiến thoái lưỡng nan, khách đành phải xuống nước thương lượng. Kết quả phải chi mấy đồng tiền rượu cho gã mới đi qua được...
Chạy một quãng nữa thì gặp ngã ba. Bỗng nghe đánh “bép” một cái. Thì ra khách mải suy nghĩ về sự việc vừa rồi, không để ý ngay giữa ngã ba có bãi cứt trâu nên đã để xe trườn qua. Ngay lập tức, một người đàn bà từ trong ngõ gần đấy xông ra tóm lấy đầu xe, tru tréo:
“Ông này đéo có mắt hay sao? Bãi cứt trâu người ta đã cắm cành lá, đánh dấu chủ quyền cẩn thận rồi. Vậy mà còn để cho xe trườn qua làm tan nát cả. Ối làng nước ôi là làng nước ôi. Ra mà xem đây này. Có khổ thân tôi không cơ chứ...”
Khách hoảng quá, vội vàng móc bóp đền bãi cứt trâu...
Lại chạy tiếp một quãng nữa. Phía trước có một đôi nam nữ đang bá vai nhau, vừa đi vừa véo ngực véo đùi nhau, nói cười ngả ngớn. Khách buộc phải chạy xe từ từ, vừa chạy vừa nhấn chuông. Đôi nam nữ kia dường như không thèm để ý. Mãi đến khi mũi ô tô gần sát đến nơi, cả hai mới uể oải đứng né sang một bên. Xe vừa chạy tới, gã thanh niên thò mặt vào sát cửa xe, quát với theo:
“Còi, còi cái con mẹ mày à...”
Rốt cuộc khách cũng tìm được tới nhà ông chủ tịch. Ngay lập tức nghe ông ta luyến thoắng:
“Làng này năm nào cũng điển hình tiên tiến đấy ông ạ. Từ sản xuất đến văn hoá, y tế, giáo dục... đéo làng nào bằng làng này. Đây ông xem, nào bằng khen, nào giấy khen, của huyện, của tỉnh... Đang “phấn đấu” để được phong danh hiệu... “Anh hùng thời kì Đổi Mới...” 

                                                          Cuối tháng 6 năm 2007
Nhời bàn của Lê Anh Hoài:
Nhìn mây nhìn gió nhìn hoa mà ngộ đạo thì xưa nay đã nhiều. Song nhìn Cứt mà ngộ đạo thì đây mới có một. Mà ngộ thật sự! Ai cũng phải tâm phục khẩu phục Cứt.
Triết lý về Cứt là triết lý về cái Tận Cùng. Cái Tận Cùng chẳng phải là Sự Thật sao? Nên đưa Cứt lên bàn thờ chẳng phải việc ngược đời. Làm cho cái bẩn thỉu lại thành thanh cao đến thế, Phạm Lưu Vũ tiên sinh quả là tài.
Nhưng cái đạo Cứt của tiên sinh, hậu sinh chúng nó không thông, nên phấn đấu mãi cũng chỉ đến “Anh hùng thời kỳ Đổi Mới” là cùng thôi chứ làm sao mà đến cái Thật nổi? Cứt thật!

Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc


Honngv lược từ Bách khoa toàn thư Wikipedia
      Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Quốc là 2 quốc gia thường xuyên xảy ra chiến tranh, từ thời Cổ đại đến thời Hiện đại. Việt Nam cũng đã từng là thuộc địa của Trung Quốc trong 10 thế kỷ. Trong tất cả các triều đại/chính phủ của Trung Quốc từng kiểm soát lãnh thổ giáp ranh với Việt Nam (Tần, Triệu, Hán, Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Ngô, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Trung Hoa Dân quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), triều đại/chính phủ nào cũng đưa quân sang Việt Nam với ý định thôn tính lãnh thổ hoặc ít nhất là kiểm soát chính quyền. Các cuộc kháng chiến chống Trung Quốc được xem là một trong những chủ đề chính, nếu không muốn nói là chủ đề lớn nhất, của lịch sử Việt Nam.
 (Mục lục:
1 Thời Hồng Bàng
1.1 Chiến tranh Ân-Văn Lang
1.2 Chiến tranh Tần-Âu Lạc
2 Thời Bắc thuộc
2.1 Chiến tranh Hán-Lĩnh Nam
2.2 Chiến tranh Đông Ngô-Việt
2.3 Chiến tranh Lương-Vạn Xuân
2.4 Chiến tranh Đường-Việt
3 Thời độc lập tự chủ (905-1407)
3.1 Chiến tranh Nam Hán-Việt
3.2 Chiến tranh Tống-Đại Cồ Việt, 981
3.3 Chiến tranh Tống-Đại Việt, 1075-1077
3.4 Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt
3.5 Chiến tranh Minh-Đại Ngu
4 Thời thuộc địa nhà Minh (1407 - 1427)
4.1 Chiến tranh Minh-Đại Việt
5 Thời độc lập (1428 - 1858)
5.1 Chiến tranh Thanh-Đại Việt
6 Thời cận đại và hiện đại
6.1 Chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc, 1979
6.2 Xung đột biên giới Việt-Trung, 1979-1990)

1. Thời Hồng Bàng
    1.1. Chiến tranh Ân-Văn Lang
   Cuộc chiến tranh được xem là đầu tiên giữa hai nước diễn ra là vào thời nhà Ân của Trung Quốc và thời Hùng Vương thứ 6 ở Việt Nam. Cuộc chiến này gắn liền vời truyền thuyết Thánh Gióng. Cuộc chiến kết thúc với sự thất bại của quân đội nhà Ân.
   Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng quân Ân không phải là nhà Ân (Thương) mà là một bộ tộc man di ở nam Trung Quốc. [cần dẫn nguồn]
    1.2. Chiến tranh Tần-Âu Lạc
   Sau khi tiêu diệt 6 nước Sơn Đông, thống nhất Trung Quốc và lên ngôi hoàng đế, Tần Thủy Hoàng tiếp tục ý định mở rộng lãnh thổ về phía nam, Thủy Hoàng sai Đồ Thư mang 50 vạn quân tiếp tục đánh chiếm những vùng đất phía nam. Cuộc chiến kết thúc năm 208 TCN và “kéo dài 10 năm”, xác định rằng thời điểm Tần Thủy Hoàng phát binh đánh Bách Việt khoảng năm 218 - 217 TCN.
   Cuộc chiến chống Tần của người Bách Việt kéo dài trong khoảng 10 năm, trong đó người Âu Việt đụng độ quân Tần trong khoảng 6 năm (từ năm 214 TCN). Các tộc người Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt… đã bị chinh phục nhưng người Âu Việt đã chiến thắng. Bước nam tiến của nhà Tần bị chặn lại sau thiệt hại nặng trong cuộc đụng độ này cùng cái chết của tướng Đồ Thư. Theo các sử gia Việt Nam hiện đại, gần như cùng thời điểm đó, sau cuộc chiến chống Tần thắng lợi, thủ lĩnh người Việt là Thục Phán đã thay thế Hùng Vương của nước Văn Lang, thống nhất Âu Việt và Lạc Việt, thành lập nước Âu Lạc vào khoảng năm 207 TCN.
    
   2. Thời Bắc thuộc
   2.1. Chiến tranh Hán-Lĩnh Nam
   Năm 40 công nguyên, sau cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng là người Việt nổi dậy, phần đất thuộc bộ Giao Chỉ (gồm 4 quận Hợp Phố tức Quảng Đông, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) tách ra khỏi lãnh thổ nhà Đông Hán, trở thành một vùng đất độc lập. Trưng Trắc và Trưng Nhị lấy đất Mê Linh làm kinh đô, phong chức tước cho những người cùng tham gia khởi nghĩa. Chính quyền của 2 bà tuy còn sơ khai nhưng cũng đã là một nhà nước độc lập, tự chủ.
   Tới năm 42 công nguyên, nhà Hán - Trung Quốc do Mã Viện cầm đầu đã đưa quân sang đánh, chính quyền của Hai Bà Trưng bị thất bại, người Việt lại tiếp tục bị Trung Quốc đô hộ.
   2.2. Chiến tranh Đông Ngô-Việt
   Năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô (Trung Quốc) tàn ác, dân gian khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại.
   Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai anh em bà dẫn quân đánh chiếm quận lỵ Tư Phố[6] nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân, đứng đầu là Tiết Kính Hàn. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng con sông này.
   Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại căn cứ Bồ Điền [11]. Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự hỗ trợ của các phong trào đấu tranh khác nên căn cứ Bồ Điền bị bao vây cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng.
   Bà Triệu chống đỡ với quân Đông Ngô được năm sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng. Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 265.
    2.3. Chiến tranh Lương-Vạn Xuân
    Năm 541, Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa, đã đánh đuổi được thứ sử Tiêu Tư nhà Lương, sau 3 lần đánh bại quân Lương những năm kế tiếp, Lý Bí tự xưng đế tức là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân vào năm 544. Đến năm Năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục. Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục đánh đuổi được quân Lương vào năm 550, bảo vệ được nước Vạn Xuân. Ông tự xưng là Triệu Việt Vương, đến năm 571 một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đã cướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30 năm đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602
    2.4. Chiến tranh Đường-Việt
    Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713). Mai Thúc Loan đã giải phóng toàn bộ đất nước và giữ vững nền độc lập trong 10 năm (713 - 722).
   Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm phẫn của người dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình (Hà Nội) nổi loạn, Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ.
    Cuối thế kỷ 9, chính quyền trung ương nhà Đường suy yếu nghiêm trọng. Nạn cát cứ của quân phiệt địa phương ngày càng ác liệt. Khởi nghĩa Hoàng Sào (874-884) đã làm triều đình nhà Đường rung chuyển. Khúc Thừa Dụ, khi đó là Hào trưởng Chu Diên[1], được dân chúng ủng hộ, đã tiến quân ra chiếm đóng phủ thành Đại La (Tống Bình cũ - Hà Nội), tự xưng là Tiết độ sứ.

3. Thời độc lập tự chủ (905-1407)
    3.1. Chiến tranh Nam Hán-Việt
    Trận Bạch Đằng năm 938 là một trận đánh giữa quân dân Việt Nam - thời đó gọi là Tĩnh Hải quân và chưa có quốc hiệu chính thức - do Ngô Quyền lãnh đạo với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Kết quả, quân dân Việt Nam giành thắng lợi. Đây là một trận đánh quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nó đánh dấu cho việc chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc của Việt Nam.
    3.2. Chiến tranh Tống-Đại Cồ Việt, 981
    Chiến tranh Tống-Việt năm 981 là một cuộc chiến tranh giữa Đại Tống thời Tống Thái Tông và Đại Cồ Việt thời Lê Đại Hành diễn ra từ tháng 1 đến tháng 4 năm 981 trên lãnh thổ Đại Cồ Việt. Kết quả, quân và dân Đại Cồ Việt đã đánh bại quân đội Đại Tống. Sau cuộc chiến này, năm 986, hoàng đế Đại Tống chấp nhận nhà Tiền Lê và ban chế phong cho Lê Đại Hành.
    3.3. Chiến tranh Tống-Đại Việt, 1075-1077
   Chiến tranh Tống - Việt, 1075-1077 là tên gọi cuộc chiến tranh giữa nhà Lý nước Đại Việt và nhà Tống của Trung Quốc vào cuối thế kỷ 11. Giai đoạn đầu, tướng nhà Lý là Lý Thường Kiệt đã chủ động đánh sang đất Tống trong chiến dịch 1075-1076; Giai đoạn sau, quân Lý rút về phòng thủ chống lại cuộc nam tiến của đại quân Tống trong năm 1076-1077 và cuối cùng đẩy lui được quân Tống ra khỏi lãnh thổ Đại Việt.
    3.4. Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt
    Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt hay Kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông (tên gọi ở Việt Nam) của một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của quân và dân Đại Việt đầu thời Trần dưới thời các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông trước sự tấn công của đế quốc Mông Cổ. Tuy thời gian của cuộc kháng chiến bắt đầu từ năm 1258 đến năm 1288, nhưng thời gian chiến sự chính thức chỉ tổng cộng bao gồm khoảng gần 9 tháng, chia làm 3 đợt. Trước, giữa và sau các đợt chiến sự là thời gian tiến hành tích cực các hoạt động ngoại giao. Kết quả, Đại Việt bảo vệ được nền độc lập của mình, nhưng trên danh nghĩa phải chịu làm một xứ phụ thuộc vào đế quốc Mông Cổ. Thắng lợi quân sự của phía Đại Việt gắn liền với tên tuổi của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Lịch sử Việt Nam xem cuộc kháng chiến này là một trong những trang sử hào hùng nhất của mình.
    3.5 Chiến tranh Minh-Đại Ngu
   Chiến tranh Minh-Đại Ngu, hay thường được giới sử học Việt Nam gọi là chiến tranh xâm lược của nhà Minh 1406-1407, là cuộc chiến của nhà Hồ nước Đại Ngu chống cuộc xâm chiếm của nhà Minh dưới triều Minh Thành Tổ nhưng bị thất bại, Việt Nam một lần nữa rơi vào sự cai trị của Trung Quốc.

4. Thời thuộc địa nhà Minh (1407 - 1427)
    4.1. Chiến tranh Minh-Đại Việt
   Sau thất bại của người Việt trước Trung Quốc trong thời nhà Hồ, Nhiều cuộc nổi dậy chống Minh, điển hình là nhà Hậu Trần, đã bị dẹp một cách tàn khốc. Liên tiếp 2 vua nhà Hồ, một vua nhà Hậu Trần bị bắt về Trung Quốc, vua Trùng Quang và các tướng đều tử tiết. Trương Phụ tàn sát những người lính theo quân khởi nghĩa và cả dân thường rất tàn bạo (chặt đầu, đốt xác, cuốn ruột vào cây...) để khủng bố tinh thần người Việt. Mặt khác, các tướng nhà Minh như Hoàng Phúc, Trương Phụ đã thiết lập bộ máy cai trị và huy động được một lực lượng người Việt giúp việc khá đắc lực như Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt, Trần Phong...
   Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra trong bối cảnh rất khó khăn, Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.

5. Thời độc lập (1428 - 1858)
    5.1. Chiến tranh Thanh-Đại Việt
Trận Ngọc Hồi - Đống Đa (hay Chiến thắng Kỷ Dậu) là tên gọi do các nhà sử học Việt Nam dành cho loạt trận đánh chống ngoại xâm thắng lợi của nước Đại Việt thời Tây Sơn do vua Quang Trung lãnh đạo vào đầu năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan hàng vạn quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy - kéo sang do sự cầu viện của vua Chiêu Thống nhà Hậu Lê.
   Trận Ngọc Hồi - Đống Đa khẳng định sự tồn tại của nước Đại Việt trước hoạ xâm lược, chấm dứt sự tồn tại của nhà Hậu Lê. Chiến thắng này còn đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong quan hệ với nhà Thanh.

6. Thời cận đại và hiện đại
  6.1. Chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc, 1979
  Chiến tranh biên giới Việt - Trung, 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Trung Quốc và Việt Nam, nổ ra vào vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đem quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. Chiến tranh biên giới Việt - Trung xuất phát từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia và ý đồ "dạy cho Việt Nam một bài học" theo lời nói của Đặng Tiểu Bình, cuộc chiến kéo dài khoảng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc bị Việt Nam đẩy lui, hoàn thành rút quân vào ngày 18 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên giới. Việt Nam tuyên bố chiến thắng do đã đẩy lui được quân nam chinh Trung Quốc. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa.
    6.2 Xung đột biên giới Việt-Trung, 1979-1990
    Tiếp nối cuộc Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979. Sau khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979 sau cuộc chiến tranh biên giới, Trung Quốc tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam". Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60km² lãnh thổ có tranh chấp mà Việt Nam kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra. Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan thuộc Lạng Sơn, quân Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam.
   Việc Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam căm giận, và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, cao điểm là các năm 1984-1985. Tới đầu những năm 1990, cùng với việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Liên Xô sụp đổ, quan hệ giữa hai nước dần trở lại bình thường. Trung Quốc dần thực hiện việc rút quân khỏi các vị trí đã chiếm đóng của Việt Nam trong thời gian trước.

5 thg 8, 2012

Ý đẹp lời hay

Lỗi thuộc người già 
Trận chiến Bạch Đằng năm 938
Ở ta lâu nay Lịch sử dân tộc bị coi nhẹ! Hậu quả tai hại ai cũng thấy. Có thể nói Lịch sử là tính kế thừa giữa các thế hệ già và trẻ, mà ta hiện nay thì người già 'hay quên', còn người trẻ thì biết Lịch sử nước ngoài hơn Lịch sử nước mình. VTV tối qua có đưa ra một nhận định nhẹ nhàng vui mà đáng để nghĩ suy. Một nhận định ý đẹp lời hay:
"Để cho lớp trẻ thích học, hiểu lịch nước nhà thì trước hết fải chữa tính 'hay quên' của người già".

Anh thua xứng đáng!

    Đêm qua thức đến 4h30 sáng để thưởng thức trận đá nhạt nhèo của đội bóng đá Olympic Vương quốc Anh với đội Hàn Quốc. Vì mình ủng hộ đội Anh nên càng thất vọng. 
    
Anh - Hàn Quốc: Chấm 11m định mệnh, Olympic 2012, Video anh vs han quoc, vuong quoc anh, olympic anh, olympic vuong quoc anh, ryan giggs, craig bellamy, olympic 2012, olympic london, the van hoi olympic 2012, lich olympic 2012, lich thi dau olympic 2012, bang xep hang olympic 2012, bang xep hang huy chuong olympic 2012, ket qua thi dau olympic 2012, video olympic 2012, the thao, bao the thao, tin the thao, the thao 24h, luân đôn 2012 bong da
Ramsey bỏ lỡ 1 quả phạt 11m trong hiệp 1
   Thất vọng vì vài cầu thủ Anh đá bóng mà thiếu cái đầu. Ramsey đá liền 2 quả fạt đền chỉ cách nhau có ít fút mà quả đầu thì đá sệt sang trái, quả thứ 2 lại đá y như thế sang fải thì trẻ con cũng đoán đc ra! Còn số 9 Daniel Sturridge thì cả trận tỏ ra uể oải, lộ rõ tinh thần vô trách nhiệm trong những đợt tấn công mà đặc biệt trong tình huống đá quả fạt trực tiếp ngay trước vòng cấm địa đội Hàn. Nếu quả này Sturridge để Ryan Giggs thực hiện thì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đặc biệt trong đá Penalty nhiều cầu thủ Anh thiếu cái đầu tỉnh táo.
   Thất vọng vì có lẽ tính bảo thủ của người Anh vẫn còn nguyên đó. Huấn luyện viên đã yêu ai thì yêu cả ở mọi trận dù cho có trận họ đá dở ẹc.
   Trên sân nhà đội Anh đã thua 1 trận xứng đáng. Đến bao giờ bóng đá Anh mới đứng ngang đc với Ý, Tây Ban Nha !

Tại sao Trung Quốc đoạt nhiều huy chương Olympics


Nguồn: từ Email bác Quốc
Nguyên tác: Trần Trung Đạo, ngày 1/8/2012
Sửa bởi: honngv
    Hiến chương của tổ chức Thế Vận (Olympics) đề ra bảy nguyên tắc căn bản chi phối mọi hoạt động của tổ chức thể dục thể thao quốc tế này, trong đó điều thứ hai khẳng định “sử dụng thể thao như một phương tiện phát triển tình hòa ái giữa con người, với ý định để đề cao, cổ súy một xã hội hòa bình, quan tâm đến việc bảo tồn phẩm cách của con người.”
    Sự kiện Trung Quốc không những đoạt nhiều huy chương mà còn đoạt rất dễ dàng như trường hợp cô gái Ye Shiwen 16 tuổi bơi nhanh hơn cả Ryan Lochte trong 50 mét cuối của cuộc đua 400 mét, tại Olympics London 2012 làm các nhà phân tích thể thao đặt ra nhiều câu hỏi. Liệu cô ta thật sự có tài năng hay bị chích thuốc mà tổ chức Olympics chưa khám phá ra?
    Lời tố cáo của báo chí và các nhà phân tích gây ra nhiều tranh luận nhưng không phải là không căn cứ. Cho đến nay, Trung Quốc đã thắng nhiều huy chương chỉ vì Trung Quốc chủ trương thắng bằng mọi giá, gian lận và dùng cực hình để huấn luyện trẻ em trở thành những người đem giải về cho chế độ bất chấp các nguyên tắc đạo đức và luật pháp quốc tế.

- Chủ trương thắng bằng mọi giá là một chủ trương truyền thống của chế độ độc tài TQ.
    Giới lãnh đạo Trung Quốc xem Olympics như là một mặt trận, giống như các mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự, trong đó Đảng trực tiếp chủ trương, tổ chức, lãnh đạo, chiến đấu và phải chiến thắng bằng mọi phương tiện và bất chấp sự khinh thường của nhân loại.
   Đọc lại lịch sử các nước đã từng duy trì chế độ độc tài, từ Đông Đức dưới thời Erich Honecker, Rumani dưới thời Nicolae Ceausescu trước đây cho đến Trung Quốc ngày nay, Olympics là môi trường để tuyên truyền, đánh bóng cho chế độ. Sự thành công của các đoàn lực sĩ của các nước ấy tạo cơ hội cho Đảng giới thiệu đến thế giới một khuôn mặt trẻ trung, mạnh khỏe của đất nước nhưng thực chất là để che giấu bên trong một chế độ lạc hậu, thối nát và đang rã mục.
    John Leonard, chủ tịch Hội các bầu bơi lội Mỹ, là một trong những người công khai đặt vấn đề về tính hợp pháp của Ye Shiwen khi ông phát biểu “Ye Shiwen đã gợi lại hình ảnh của những lực sĩ bơi lội Đông Đức trước đây.” Ý của John Leonard muốn nhắc đến nữ lực sĩ Đông Đức Petra Schneider, 5 lần vô địch thế giới, cuối cùng đã thừa nhận cô bị chế độ Đông Đức tiêm thuốc và chính cô năm 2005 đã yêu cầu Ủy Ban Thế Vận xóa bỏ kỷ lục thế vận do cô lập nên trước đó.
Petra Schneide
Quá trình trưởng thành của Petra Schneider từ khi còn thơ ấu cho đến ngày đại diện Đông Đức tham dự Thế Vận Hội Moscow 1980 cũng không khác gì cuộc đời của Ye Shiwen và các lực sĩ Trung Quốc.
    Khi được khám phá có khả năng trở thành vô địch, cô bé Petra Schneider bị tách ra khỏi gia đình và được đưa đến một trung tâm huấn luyện. Tại đây Petra được gọi bằng số thay vì tên. Số của cô, từ đó cũng sẽ là tên cô, là 137. Tại trung tâm này, cô bé số 137 trong mỗi bước đi đều được dạy để mang vinh quang bơi lội về cho “Tổ quốc Cộng Hòa Dân Chủ Đức”. Để gia tăng khả năng chịu đựng của buồng phổi, cô bé số 137 buộc phải bơi trong một bình lớn bị hút cạn dưỡng khí. Cô bé 137 được nuôi dưỡng chẳng khác gì gà tây được nuôi trong nông trại. Cô bị chích thuốc để kích thích các bắp thịt mạnh thêm. Cô bị chích nhiều đến nỗi, khi vào tuổi giữa 30, Petra Schneider đã bị nhiều thứ bịnh.
    Chế độ độc tài Nicolae Ceausescu là một ví dụ khác. Sau khi chế độ Nicolae Ceausescu sụp đổ, báo chí quốc tế khám phá ra đời sống thật của đất nước Rumani không trẻ trung, khỏe mạnh, tài ba như các em trong đoàn lực sĩ từng đoạt huy chương vàng toàn đội môn thể dục dụng cụ tại Thế Vận Hội Los Angeles 1984 hay huy chương bạc tại Thế Vận Hội Seoul 1988 mà là hàng ngàn em bé thiếu dinh dưỡng đang chết đói trong các trại mồ côi, các bệnh viện nhi đồng không ai chăm sóc. Thảm trạm của trẻ em tại Rumani trầm trọng đến mức sau ngày cách mạng dân chủ thành công, vợ chồng Nicolae Ceausescu đã bị tòa quyết định xử bắn vì tội diệt chủng.

- Trung Quốc là ông tổ gian lận quốc tế.
Ye Shiwen

   Ye Shiwen đã thẳng thắn từ chối lời tố cáo của nhiều người rằng cô ta đã dùng thuốc. Phái đoàn lực sĩ Trung Quốc tham gia Thế Vận đã phản ứng mạnh mẽ trước những tố cáo và cho đó là lời kết án không bằng chứng. Tại lục địa, làn sóng công phẫn đang dâng cao trong giới trẻ vì họ cho Anh, Mỹ lần nữa đang hạ nhục Trung Quốc. Bài ai điếu “100 năm sỉ nhục” đang lần nữa được cất lên. Có thể Ye Shiwen đã không dùng thuốc. Tuy nhiên, dân Trung Quốc, trong và ngoài lục địa đừng quên rằng lịch sử các cuộc tranh tài bơi lội quốc tế của Trung Quốc là lịch sử chứa đầy gian lận. Trong những năm qua, cả bầu lẫn lực sĩ bơi lội Trung Quốc bị bắt gian lận nhiều lần, nhiều đến nỗi không ai nhớ hết.
    Tại Á Vận Hội Hiroshia 1994, mười một lực sĩ Trung Quốc bị loại vì sử dụng thuốc và 9 huy chương vàng bị thu hồi. Trong dịp đó, giới lãnh đạo Trung Quốc mặt dày chẳng những không biết nhục, không nhận lỗi mà đã tố cáo ngược chính phủ Nhật đã phân biệt chủng tộc trong việc thử nghiệm máu.
    Năm 1997, hàng loạt lực sĩ trong đó có cả ông bầu Trung Quốc đã bị đuổi ra khỏi giải Vô Địch Bơi Lội Thế Giới tổ chức tại Perth, Úc. Thậm chí trong đoàn lực sĩ Trung Quốc còn có một tên bị hải quan bắt khi trong xách hành lý của y chứa nhiều loại thuốc đủ cho cả đoàn dùng trong suốt thời gian tranh giải.
   Trong thập niên 1990, số lực sĩ Trung Quốc bị khám phá dùng thuốc gần bằng một nửa tổng số vi phạm trong tất cả các loại thể thao toàn thế giới. Như trường hợp của Petra Schneider tại Đông Đức trước đây, việc sử dụng thuốc kích thích cơ năng trong thân thể là một phần quan trọng trong chủ trương “thắng bằng mọi giá” của các đảng CS kể trên.
   Trong Thế Vận London lần này, thói quen huấn luyện của các lực sĩ bơi lội Trung Quốc vài tháng tại Úc và vài tháng tại lục địa cũng gây nhiều thắc mắc. Một số nhà quan sát nghi ngờ các lực sĩ Trung Quốc huấn luyện kỹ thuật tại Úc nhưng sau đó về lại lục địa để dùng thuốc. Sau khi thuốc thấm, họ trở lại Úc để luyện tập kỹ thuật.
Wang Xiaoli và Yu Yang
    Một hình thức vi phạm luật chơi trơ trẽn nhất là trường hợp “đánh để được thua” trong trận vòng xếp hạng giải cầu lông giữa Trung Quốc và Nam Hàn hôm 31 tháng Bảy vừa qua. Trong trận này, hai cầu thủ Trung Quốc Wang Xiaoli và Yu Yang chẳng những nhiều lần cố tình đánh cầu ra ngoài mà còn thậm chí tự đánh vào lưới để “được thua”. Lý do, Wang Xiaoli và Yu Yang không muốn đụng phải các cầu thủ Trung Quốc khác vừa là “đồng chí” và vừa khó thắng so với các cầu thủ các nước khác yếu hơn trong vòng tứ kết. Wang Xiaoli và Yu Yang là hai cầu thủ được xếp hàng đầu thế giới nhưng vẫn lo sợ bị thua và hành xử một cách tầm thường. Cầu thủ Yu Yang vừa tuyên bố từ giã bộ môn cầu lông nhưng không phải vì cảm thấy hổ thẹn hay hối hận nhưng vì Ủy Ban Thế Vận đã “tàn phá giấc mơ” của cô. Quả thật, một chế độ không biết nhục đào tạo ra những cầu thủ không biết thẹn. Cầu thủ cầu lông Petya Nedelcheva của Bulgary tố cáo Trung Quốc đã làm điều đó không chỉ một lần mà rất nhiều lần.
   Hôm qua, tờ Guardian của Anh mỉa mai rằng việc phê bình các cầu thủ cầu lông Trung Quốc “đánh để được thua” là oan cho các bạn trẻ này. Những lực sĩ Trung Quốc chỉ tuân theo chỉ thị “đoạt huy chương bằng mọi giá” của Đảng mà thôi. Để đạt được mục tiêu tối hậu đó, các cầu thủ Trung Quốc phải khéo léo thua những trận vòng ngoài. Nhiều nhà báo còn khinh bỉ Trung Quốc khi viết “đánh cho thua như các cầu thủ Trung Quốc cũng là một kỹ thuật và cũng không kém phần hồi hộp”.
   Cũng từ hôm qua, hệ thống truyền hình BBC ngưng chiếu hình ảnh các huy chương được trưng bày trên bàn trước khi mỗi giải chung kết bắt đầu. Đài không giải thích nhưng nhiều nhà báo cho rằng hành vi của các lực sĩ Trung Quốc đã làm ô nhuế giá trị cao quý của huy chương Thế Vận Hội. Ký giả Simon Jenkins của báo Guardian viết “Thế vận hội thời này là việc nhái lại trò của Hitler trong Thế Vận 1936” và nhà báo này viết tiếp “Cầu thủ Trung Quốc nên được chúc mừng vì sự khéo léo” trong trò “đánh để thua” của họ.

- Trung Quốc dùng cực hình để huấn luyện trẻ em trở thành vô địch
   Tại Trung Quốc không có một môi trường thể dục thể thao đúng với tinh thần do hiến chương của Tổ Chức Thế Vận đề ra mà chỉ có những chương trình tra tấn thiếu nhi để đem huy chương vàng về cho đảng CS. Lực sĩ các bộ môn thể thao tại Trung Quốc là một đội quân được trang bị và huấn luyện kỹ thuật từ khi còn tấm bé.
Một em bé huấn luyện cho Olympics bị người huấn
luyện đứng lên chân, (nguồn dailymail.co.uk)
  Câu chuyện về gia đình của nữ lực sĩ môn nhảy nước Wu Minxia là một ví dụ. Gia đình của Wu Minxia đã phải giấu chuyện ông bà của cô ta qua đời để không ảnh hưởng đến việc tập luyện của con. Tại hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, một lực sĩ bao giờ cũng là phần không thể tách rời của gia đình. Cha mẹ, dù khó khăn bao nhiêu, cũng tìm mọi cách bám theo từng bước chân của con, cùng chia sẻ niềm vui khi thành công và đau buồn khi thất bại với con. Tại Trung Quốc thì khác. Cha cô, ông Wu Yuming than thở với báo Shanghai Morning Post “Tôi chấp nhận sự kiện từ lâu rồi con gái tôi không hoàn toàn thuộc về gia đình chúng tôi nữa. Tôi cũng không dám nghĩ đến việc sống như một gia đình hạnh phúc”.

Bằng mọi giá - Nguồn dailymail.co.uk/news
   Sáng nay, 1 tháng Tám, ký giả Matt Blake của tờ Daily Mail trong loạt phóng sự có kèm theo những hình ảnh đau lòng, tố cáo sự tra tấn thô bạo của giới lãnh đạo thể dục thể thao Trung Quốc đối với trẻ em chỉ để đạt được mục đích chiếm càng nhiều huy chương càng tốt tại các giải thưởng thể thao quốc tế, nhất là tại các Thế Vận Hội.
   Ban giám hiệu các trường mẫu giáo và tiểu học Trung Quốc được chỉ thị phải lưu ý đến năng khiếu học sinh. Khi một học sinh thể hiện dấu hiệu có năng khiếu về một bộ môn thể thao nào đó, em tức khắc bị tách rời ra khỏi gia đình và trường học để được đưa đến một trung tâm huấn luyện. Cha mẹ không có quyền từ chối. Trung Quốc có khoảng ba ngàn trung tâm, và tại mỗi trung tâm có hàng ngàn lực sĩ tí hon đang được quan sát và huấn luyện. Trong trường hợp Ye Shiwen, cô bé được chọn vì cô có vóc dáng con trai rất bất bình thường thích hợp cho các môn điền kinh. Sau khi bị tách rời khỏi căn nhà hai phòng ngủ của gia đình ở Hàng Châu, Ye Shiwen được đưa vào trường thể thao Chen Jingluin, tuy nhiên, để được huấn luyện bơi lội. Khái niệm quyền và sở thích cá nhân không tồn tại trong ngành thể dục thể thao Trung Quốc.

 

Khoảng 900 trẻ em được chọn từ các trường mẫu giáo mỗi năm tại Hangzhou
và cha mẹ không thể từ chối - nguồn: http://www.dailymail.co.uk/news/article-2181374/Ye-Shiwen--forging-Mandarin-mermaid-How-Chinese-children-brutalised-future-Olympians.html
   Các chương trình tập luyện sức khỏe dành cho cô bé Ye Shiwen dù chỉ mới bảy tuổi đã vượt qua mức độ dành cho người lớn. Ye Shiwen bơi liên tục mỗi ngày từ sáng đến tối và chỉ nghỉ ngơi khi công nhân dọn dẹp, lau chùi hồ bơi.
   Mẹ của Ye Shiwen vừa trả lời với báo chí rằng “kết quả không quan trọng, nhưng Ye Shiwen nên cảm thấy vui mừng khi được tham gia thế vận”. Câu nói nặng mùi tuyên truyền này chỉ để trả lời báo chí. Nhiều người nghi ngờ bà có dám nói câu tương tự trước mặt giới lãnh đạo CS Trung Quốc hay không.
   Chính sách tẩy não là một phần quan trọng của chương trình huấn luyện. Các cầu thủ Trung Quốc được dạy phải hạ các cầu thủ Mỹ và bất cứ quốc gia nào để đoạt cho được huy chương vàng. Trên tường của các trung tâm huấn luyện sơn một chữ duy nhất: GOLD. Họ cũng được dạy cách cười, cách nhìn thiện cảm dành cho giám khảo, cách thể hiện trên khuôn mặt và tuyệt đối không được tỏ ra đau đớn hay yếu kém. Niềm vui duy nhất của Ye Shiwen là thức ăn của cô bé đầy đủ hơn bữa ăn của nhiều cô bé Trung Quốc khác cùng lứa tuổi.
   Chế độ huấn luyện dành cho các bộ môn thể thao khắc nghiệt đến nỗi các nhà điều tra Tây phương tìm cách xâm nhập vào để quan sát và đã kết luận đó là những nhà tù của thế kỷ 19.


 
Trẻ em Trung Quốc "trong trung tâm huấn luyện" (nguồn dailymail.co.uk)
    Sir Matthew Pinsent, quan sát viên của tổ chức Thế Vận và cũng là một huy chương vàng Olympics, sau khi quan sát cách các lực sĩ Trung Quốc được huấn luyện môn thể dục dụng cụ đã nhận xét “thật là một kinh nghiệm bối rối” khi thấy những cảnh đó. Nhiều trẻ em khóc và kể lại các em bị các ông bà bầu đánh đập. Ủy ban Thế Vận hứa điều tra những lời tố cáo của Sir Matthew Pinsent nhưng đến nay chưa có biện pháp nào cụ thể.
    Sau 1978, chủ nghĩa bá quyền nước lớn của Trung Quốc không chỉ thể hiện trong lãnh vực quân sự, kinh tế, chính trị mà cả trong lãnh vực thể thao. Trung Quốc đang trên đường trở thành một đế quốc thực dân đỏ tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại. Với một dân số 1.3 tỉ do một đảng độc tài và bất nhân lãnh đạo, thảm họa do chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc gây ra có khả năng vượt qua thảm họa do … và Hitler cộng lại. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang biến Trung Quốc thành một chảo dầu khổng lồ và khi phát cháy không chỉ cháy riêng Trung Quốc mà lan rộng sang nhiều quốc gia trong vùng và cả thế giới. Do đó, sự chậm trễ trong việc ngăn chận đế quốc tàn bạo này chỉ làm tăng thêm sự chịu đựng khổ đau cho nhân loại về sau.

Trần Trung Đạo

4 thg 8, 2012

Thẻ Sinh Viên


Cám ơn Tất Nam đã thuật khá tỉ mỉ và thú vị về câu chuyện chiếc Thẻ Sinh viên, đã một thời từng gắn bó với sinh viên ĐHBK thời chúng mình, mà nếu không có nó thì chắc chắn chúng ta không thể mượn được giáo trình trong thư viện trường, và không thể được nhiều thứ khác nữa.

Rất hay là mình còn giữ được tấm Thẻ Sinh viên của .... bạn Trần Trọng Châu, định post lên blog k14vt từ lâu, nhân đây xin phép bạn Châu, post lên blog k14vt để các bạn ôn lại kỷ niêm thời chúng mình


Chữ ký của thầy hiệu trưởng Phạm Đồng Điện (góc phải bên dưới tấm hình trên)
Các bạn hay ngồi học ôn thi ở nhà C9 chắc vẫn còn nhớ "Đường Mòn Phạm Đồng Điện"
((xin lỗi thầy Điện)



Vẫn còn hình con dấu nổi của trường
 

Chuyện kể thời quân ngũ (tiếp)

 LÍNH TĂNG GIA 
  
   Bọn mình là SV, khi ‘bị’ phân công vào lính nhất thiết phải qua 1 đến vài lần đi ‘tập huấn quân sự’. Mỗi đợt thường kéo dài 3 tháng. Tập huấn gồm, nội vụ thì có: học đứng học chào, quay trái quay phải, gấp chăn gấp màn… Quân sự thì có lăn lê bò toài, hành quân, lựu đạn, súng ngắn súng dài, đánh trận giả. Cuối mỗi đợt là bắn đạn thật. Và đặc biệt kg thể thiếu khoản tăng gia (trồng rau). Tất cả các môn đều chấm điểm rõ ràng, kể cả tăng gia, gửi về đơn vị.
    Có đợt bọn mình phải tập huấn tại trường (gì quên rồi) của Cục nhà trường quân đội trên Suối Hai (Sơn Tây cũ), là nơi đào tạo hạ sỹ quan chiến sỹ. Những nơi này nổi tiếng việc rèn lính. Trời mùa hè, đày dưới nắng Sơn Tây, anh em chịu hết nổi. Nhưng kinh nhất vẫn là mục tăng gia. Mỗi tiểu đội phải trồng, chăm sóc 1 đến 2 luống rau (cải hoặc rau muống). Rau thu hoạch đc phải cấp cho bếp ăn tiểu đoàn, cân đong ghi chép  chấm điểm cẩn thận.
   Đã trồng rau tất phải bón, tưới phân. Cứ mỗi chiều (trừ chủ nhật), sau khi ở bãi tập về, mỗi tiểu đội cử 2 đến 3 lính (con trai) lại tranh nhau chui vào toilet công cộng cào múc phân tươi, rồi hòa nước đem tưới rau. Thằng nào thằng nấy, bịt kín đầu kín mũi, mặt nhăn mày nhó hơn cả ninja mà quần áo vẫn thối um. Trong khi đó có 1 tiểu đội, chả có thằng nào phải làm như vậy, chỉ cách ngày chúng mới tưới vài thùng nước lấy lệ. Bọn chúng thằng đi chơi, thằng đi tắm, thằng lên bờ hồ Suối Hai ngồi… ngắm gái. Nhưng kết quả thu hoạch thì bao giờ số lượng rau của chúng cũng bằng hoặc hơn rau của mấy tiểu đội bọn mình. Cuối đợt tập huấn, điểm số mục tăng gia của bọn chúng cao nhất.
   Mình nghi ngờ và cố tìm hiểu lý do. Phải đến ngày tổng kết tập huấn xong, trên bờ hồ Suối Hai, vào 1 bữa bia cuối cùng trong buổi chiều tà trước khi đi phép, để rồi đến từ đâu thì lại về đấy, thấy kg cần phải giữ bí mật nữa, nể sự bái fục của mình, tay tiểu đội trưởng kia mới cười mà rằng (đại ý): Chúng mày khờ 1 cục, đầu toàn gỗ mục. Học trinh sát mà kg biết trinh sát, học tham mưu mà chả biết tham mưu, học tác chiến mà kg biết tác chiến. Chúng tao thừa biết, nếu đánh trực diện, sòng phẳng chắc chắn kg đạt chỉ tiêu. Thế là ban tham mưu của tiểu đội đc thành lập và lập kế hoạch cho chiến dịch này là phải tiến hành chiến tranh du kích. Cử các trinh sát xâm nhập nhà dân, quán triệt đường lối: lấy dân làm gốc, gây dựng các căn cứ cách mạng từ trong lòng dân, nắm vững nguyên tắc: 2 bên cùng có lợi. Tổ tác chiến chia làm nhiều mũi, nghi binh và đưa rau từ nhà dân về bằng những con đường kg vết. Và điều cốt lõi là tuyệt đối bí mật. Và kết quả như bọn khờ chúng mày đã thấy.
  Tai mình đã thủng, tay đành phải mở nắp bia rót cốc mời hắn. Tay tiểu đội trưởng này ở Trung tâm toán máy tính, cùng Viện với mình và nghe đâu cũng dân trường Trỗi. Mỗi lần họp toàn Viện, gặp nhau mình lại phải ‘vái’ hắn.

3 thg 8, 2012

Hỗn loạn nhớ ngày làm thẻ sinh viên

     Mấy hôm nay, qua báo chí thấy rất nhiều điều bức xúc: nào là giám đốc công an Vĩnh Phú bị nổ mìn trước nhà chưa tìm ra thủ phạm thì giám đốc công an Khánh Hòa cũng bị tương tự, nào là trung tá cảnh sát giao thông tỉnh Đồng Nai đang làm nhiệm vụ cho xe chuyên dụng vào cây xăng ven đường tiếp nhiên liệu bị chém trọng thương, nào là hai cảnh sát đặc nhiệm Đồng Hới - Quảng Bình bị thanh niên đánh nguy kịch. Xa hơn một tí, rừng Phong Nha - Kẻ Bàng bị các nhóm lâm tặc ngang nhiên đốn hạ gỗ quý, thậm chí lâm tặc các tỉnh khác biết tin còn đến đây đón lõng đánh cướp từng mẫu cành khúc rễ. Ở Lâm Đồng, giữa thành phố mà công ty cây xanh phải cử nhân viên căng võng ngay ở gốc các cây sưa, cây huê, đúng là hết chỗ nói.
     Nhìn cảnh tượng này nhớ khi vào ĐHBK Hà Nội làm thẻ sinh viên: Năm học đầu tiên ở Hoài Đức mới khai giảng được một hai tuần, một hôm, các lớp nhận được lệnh tập trung sau khi tan học trước nhà ban giám hiệu khoa Vô tuyến, thầy Hoàng phổ biến kế hoạch làm thẻ sinh viên: Ai đã có ảnh thì ghi tên mình ra phía sau rồi gửi cho lớp trưởng, ai chưa có ảnh thì chủ nhật tới được về Hà Nội chụp ảnh, chụp xong gửi giấy hẹn cho các bạn người Hà Nội cùng lớp tuần tiếp về thăm nhà nhận ảnh hộ. Sau khi có thẻ nhớ giữ gìn cẩn thận vì đó là giấy tùy thân của mình. Trường hợp xấu bị mất phải khai báo cho công an gần nhất ngày, giờ, và địa điểm, khai báo cho công anh xong về khai báo cho ban giám hiệu khoa vào sổ để theo dõi và làm thẻ mới, tránh trường hợp oan uổng như những khóa trước. Thầy Hoàng nói tiếp: một hôm, độ khoảng 20h tối có 2 công an đi trên xe moto 3 bánh đến trường ĐHBK Hà Nội, sau khi làm việc với bảo vệ nhờ bảo vệ dẫn đường, họ trực chỉ đến khoa Vô tuyến đọc lệnh bắt 1 nam sinh viên K12, khi ra về, họ không quên cho bảo vệ nhà trường biết đơn vị và địa chỉ tổ làm nhiệm vụ. Bảo vệ nhà trường đến báo cáo với ban chủ nhiệm khoa Vô tuyến, thế rồi, đại diện ban chủ nhiệm khoa trực tiếp là thầy Hoàng cùng bảo vệ vượt cầu Long Biên sang Gia Lâm trong đêm đó. Đơn vị công an cho thầy Hoàng biết độ khoảng lúc 19h buổi chập tối, có 1 phụ nữ đến khai báo có một sinh viên ĐHBK đã giở trò đồi bại với chị, minh chứng là chị đã nhặt được chiếc ví bên trong có thẻ sinh viên. Qua xác minh, chiều hôm đó khóa 12 thi môn cuối cùng và người sinh viên này đi thi về còn mệt thậm chí chưa kịp ăn cơm còn chiếc ví và thẻ sinh viên thì đã bị kẻ gian móc túi trên tàu điện tuyến biện viện Bạch Mai đi Cửa Nam. Sáng hôm sau, nhà trường phải có giấy bảo lãnh bằng văn bản kèm theo chứng cứ giờ vào phòng thi và giờ rời khỏi phòng thi của giáo viên bộ môn,công an  Long Biên mới trao trả người sinh viên khoa vô tuyến bị bắt oan kèm theo giấy vô tội. Hóa ra, anh sinh viên này bị kẻ gian móc mất ví, nhưng vì ví đẹp nên họ để lại sử dụng kèm theo thẻ sinh viên. Khi họ giở trò xấu xí, người phụ nữ bị hại nhặt được đến khai báo công an.
       Câu chuyện trên đây tuy nhỏ nhưng nó xảy ra trong một xã hội lớn: xã hội sống, học tập, lao động và làm việc theo pháp luật, một xã hội có kỉ cương, phép nước rõ ràng. Những người công an họ làm việc đúng nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao, mình không có quyền trách cớ họ mà phải tự trách mình thiếu cẩn thận trong sinh hoạt. Giá như câu chuyện đó xảy ra hiện nay thì người phụ nữ ấy cũng chỉ ngậm đắng nuốt cay giấu chồng (nếu đã có gia đình) và giấu bạn trai (nếu trong thời kì yêu đương), họ không dại gì mà đi báo bởi vì có báo đi chăng nữa thì cũng chẳng có ai thực thi nhiệm vụ, thậm chí họ còn đàm tiếu  làm trò.
        Theo Tất Nam, tệ nạn xã hội bây giờ không còn là hồi chuông báo động mà nó đã sang giai đoạn hỗn loạn.

2 thg 8, 2012

Khâm phục thủ khoa 29 điểm ĐH Dược Hà Nội


   Như tin đã đưa trên VTV, cậu học sinh Lê Đức Duẩn, người làng Nhị Khê (Hoàng Long, Phú Xuyên, Hà Nội) đã là tân thủ khoa ĐH Dược Hà Nội.
   Cái nghèo tôi luyện con người, còn khi quá no đủ lại dễ làm hỏng con người. Cậu bé Duẩn rơi vào trường hợp đầu. Từ khi bố mất, cậu mới hơn 10 tuổi đã fải trở thành lao động chính trong gia đình. Ngoài những giờ trên lớp, cậu cặm cụi đan hàng mây tre nhặn nhạnh từng đồng giúp mẹ. Mục tiêu mà Duẩn đặt ra là mỗi ngày phải kiếm được hơn 20 nghìn đồng. Cậu là một cậu bé cao, gầy nhẳng ngày nào cũng vượt gần 10km đến trường trên chiếc xe đạp cà tàng.
    Thật cảm động khi xem vài bức ảnh về ngôi nhà, việc làm hàng ngày và chiếc xe đạp của cậu bé.
    Khâm fục cậu bé !
Hình đã gửi
Đan hàng mây tre, nghề giúp Duẩn vào giảng đường ĐH Dược

Chiếc xe cà tàng, nan hoa đã han gỉ, lốp chằng buộc.










Xích khô và cũng hoen gỉ còn không có cả bàn đạp..













Giọng hát Việt-1 chương trình đáng xem


    Nói thật, đã từ lâu mình bị ‘dị ứng’ với các chương trình (CT) ca nhạc của Việt Nam. Nhưng đến hôm kia, trong lúc cả nhà ngồi ăn cơm, lại đc thằng con giới thiệu mình mới ngó lên TV và bị lôi cuốn ngay với CT truyền trực tiếp “Giọng hát Việt - the voice Viet Nam 2012”. Tối qua còn xem lại !
   Có lẽ từ khi có nhà đài (TV) đến giờ mới có 1 CT ca nhạc ngang tầm khu vực nếu kg muốn nói là thế giới như CT này.  
     Ở đây mình kg muốn nói đến các bài hát hay hay dở.
   Về nghệ thuật. Dù có lẽ là mua lại bản quyền của nc ngoài (chưa có thì giờ tìm hiểu) thì đạo diễn cũng rất công fu, kg có hình ảnh thừa, kể cả các đoạn fim dẫn, chuyển cảnh. Nghệ thuật quay hình đã đạt tới sự gần như hoàn hảo: hình rõ, nét và đặc biệt là sự đồng bộ thì chưa có CT nào làm đc. (Đây là điểm yếu nhất từ xưa tới nay ở ta: thấy tiếng mà mà kg thấy hình và ngược lại). CT này đã khác, dù chỉ là hình lướt qua. Mình kg diễn tả nổi chỉ nói là ‘giống tây’ hay video Paris By Night.
   Về con người. MC dẫn được, có duyên, kg có cử chỉ, lời nói thừa. (Và đặc biệt kg “vâng” tràn lan vô duyên đến độ ngớ ngẩn như nhiều MC hay PTV, BLV hiện giờ).
   Vừa qua nhiều tờ báo 'đi sâu vào tận giường ngủ’ các ‘ngôi sao’, làm mình cứ có ác cảm với Hồ Ngọc Hà, Thu Minh, Đàm Vĩnh Hưng. Nhưng CT này đã làm mình thay đổi 180 độ. Dù có lúc như họ, kể cả Trần Lập, fải tranh giành nhau nhưng lời nói của họ rất văn hóa: văn hoa, lịch sự, dí dỏm. Phong thái của họ như ngoài đời, rất gần gũi khán giả. Đặc biệt Hồ Ngọc Hà rất hoạt ngôn, vốn từ lớn; ăn mặc lịch sự quý fái.
   Các cháu thí sinh (đến vòng này) kg những hát hay mà trang fục cũng như trả lời các hướng dẫn viên cũng rất lịch sự, thanh lịch.
   Túm lại, Giọng hát Việt 2012 là 1 CT ca nhạc đáng xem, 1 CT biết tôn trọng khán giả. Hy vọng đến các vòng sau, nhà đài và các nghệ sỹ fát huy và làm hay hơn nữa.

1 thg 8, 2012

Đau nhức nhối, di vật Trường Sa...


Mai Thanh Hải

Sau khi Hạ sĩ Hoàng Đặng Hùng (chiến sĩ Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân) hy sinh tại đảo chìm Đá Lớn A, quần đảo Trường Sa, anh em trong đơn vị chuyển về gia đình vẹn nguyên quân tư trang, đồ dùng sinh hoạt cá nhân của em, từ ngoài đảo.

"Gia tài" của Liệt sĩ Hoàng Đặng Hùng, hy sinh tại đảo chìm Đá Lớn A, quần đảo Trường Sa ngày 25/7/2012
Đất nước bình yên ư?. Không phải! Bởi ở đâu đó ngoài đảo xa - biên giới, vẫn có những người lính ngã xuống, hàng ngày hàng tuần mà ít người sống đầy đủ - toàn vẹn trong đất liền, dưới đô thị biết được.

Đất nước hạnh phúc ư? Không phải! Bởi ở đâu đó trong mỗi con phố, miền quê, vẫn có những người bố người mẹ, người em đêm đêm khóc thầm, gọi tên người thân không bao giờ về lại...

Từ cái kim sợi chỉ cho đến quân phục - ba lô



 Mẹ khóc con


Cạn nước mắt
Vạn lần! Triệu lần!. Biết ơn những ông bố bà mẹ đã sinh thành, nuôi nấng và cống hiến giọt máu của mình, để giữ đất nước thân thương, trong nỗi đau - xót xa không thể ai có thể hàn gắn...

Đất nước này, chế độ này và những người đang sống trên dải đất hình chữ S này mắc nợ các anh chị, những người cha mẹ, anh chị em người thân liệt sĩ nhiều lắm. Những sự nợ nần, không thể trả bằng đồng tiền chế độ, ưu đãi trợ cấp mà còn bằng cả sự sống, yếu ớt chờ đựng, trong mỗi giọt máu - con tim...