29 thg 7, 2012

Ma Văn - Thể - Du


Có lẽ, Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du lịch nên đổi slogan cho ngành du lịch Việt Nam thành “Đất nước ma thuật” - thay cho slogan đang dùng là“Vẻ đẹp bất tận” thì hợp lý hơn. Ở chỗ, dù đã gào lên ầm ĩ (chắc chắn không chỉbằng nước bọt) nhưng đến nay, chả mấy ai nhớ slogan của Bộ. Thêm vào đó, “đất nước ma thuật” nghe ấn tượng hơn, hấp dẫn hơn và cơ bản, “slogan” này phản ánh chân thực những giá trị cơ bản mà Việt Nam đang sở hữu.

Sao lại gọi Việt Nam là “Đất nước ma thuật”? Trước hết bởi để tìm kiếm những giá trị thật ở đất nước này cực khó, nếu chẳng muốn nói là không thể. Nói cách khác, những giá trị thật không có đất sống trong môi trường Việt Nam, buộc phải sói mòn rồi cạn kiệt. Cũng xin lưu ý, môi trường Việt Nam mà tôi nói ở đây không khu biệt trong nước hay ngoài nước hay thể chế chính trị nào mà ý nói đến ở những nơi có mặt người Việt sinh sống. Đơn giản nhất như việc nói thật hay bị ném đá bởi người ta chỉ chuộng lối nói dối, nói trái với suy nghĩ của mình. Sự giả dối ăn sâu vào máu của người Việt - thứ mà thiếu đi, người Việt sẽ không còn là người Việt nữa. Tất cả biến Việt Nam thành một dân tộc vô liêm sĩ một cách đáng kính trọng.

Từ nạn giả dối tràn lan khắp các hang cùng ngõ hẹp, từ mạn xuôi lên mạn ngược, từ trung ương tỏa ra các địa phương để chẳng nơi đâu mà các khái niệm dễ dàng bị người ta…đánh tráo hơn thế. Nhà ma thuật David Copperfield có thể nổi tiếng ở đâu đó bằng cách đi xuyên vạn lý trường thành, có thể nhấc bổng cả đoàn tầu chục toa lên khỏi mặt đất, có thể biến con bồ câu trên tay thành con ngựa vằn (và ngược lại) nhưng đến Việt Nam thì chịu thôi. Bởi để biến một Đàm Vĩnh Hưng thành văn công cộng sản và phù phép một Trọng Tấn, Anh Thơ thành những kẻ vì cái tôi cá nhân và (gần như) phản bội lại đất nước thì chỉ có mỗi Việt Nam làm được. Chính xác hơn là mỗi Bộ Văn hóa Thể Thao Du lịch Việt Nammới làm được, David Copperfield chịu. Nếu được đề nghị và trả cho một khoản thù lao kếch xù thì anh ta cũng chịu và chỉ biết ngơ ngác rồi bỏ của chạy lấy người.

Đàm Vĩnh Hưng chính xác chỉ là một ngôi sao giải trí, là ông hoàng của làng showbiz và thứ tư tưởng nếu có chỉ là chủ nghĩa hiện kim hiện vật. Anh ta làm nghề vì đam mê và kiếm tiền để nuôi dưỡng, tỉa tót đam mê. Chấm hết. Đàm Vĩnh Hưng là người chịu thụ hưởng cuộc sống nên nơi nào đáp ứng được cho sự thụ hưởng thì anh sẽ hướng về nó. Như từng có lần Đàm Vĩnh Hưng muốn tuồn sang Mỹ nhưng kế hoạch bất thành (rớt phỏng vấn), anh đành phải ở lại ViệtNam. Trong não bộ của cộng sản, không có tên của Đàm Vĩnh Hưng. Nếu có chỉ là sựtưởng tượng của dăm ba cái đầu đầy cám lợn ở đâu đó trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Ngược lại là Trọng Tấn, dù hình ảnh không được phủ sóng theo diện rộng, không nằm lòng trong mọi tầng lớp công chúng cùng với “mật độ” của những lần ra album thưa thớt (và ca sĩ như anh cũng chẳng cần phải tung ra quá nhiều album làm gì) nhưng trong lãnh địa nhạc đỏ, Trọng Tấn là địa chủ của những địa chủ. Không chỉ co cụm trong lãnh địa nhạc đỏ mà vươn ra nhạc nhẹ, nếu Thanh Lam được mặc định là diva hàng đầu thì không ai khác ngoài Trọng Tấn là divo số 1 của nhạc Việt. Là bởi, xét về âm sắc, Trọng Tấn là giọng hát nam đẹp nhất, quý nhất Việt Nam hiện nay. Nói về tư duy âm nhạc, chẳng nam ca sĩ nào sở hữu được một tư duy âm nhạc văn minh hơn thế. Tư cách thì miễn bàn, giữa một làng âm nhạc xô bồ và nhộn nhạo, Trọng Tấn không bị cuốn theo vòng xoáy của thị trường mà tách hẳn thành một dòng chảy riêng tư để giữ được cho mình một thế đứng từ tốn mà độc tôn, vững chãi. Không dừng lại ở một giọng hát đẹp, một tư duy âm nhạc văn minh, một tư cách sạch sẽ, Trọng Tấn còn là tấm gương, là đích đến mẫu mực của các thế hệ ca sĩ sau này hay ít nhất nếu chả được thế, tài năng và tư cách của anh vượt trội và hơn hẳn lắm anh, lắm bà cộm cán trong cái bộ có cái tên mỹmiều Văn hóa Thể Thao & Du lịch. Với mình, Trọng Tấn là báu vật quốc gia.

Trở lại với công điện của Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Nguyễn Văn Tình yêu cầu kỷ luật Trọng Tấn (và Anh Thơ) theo mình là một loại công điện VỚ VẨN, NHẢM NHÍ. Công điện ấy nó RẺ TIỀN hơn cả Ngọc Huyền. Vì sao mình bảo thế? Vì tinh thần của của cái gọi là công điện ấy nó đậm đặc mùi vị của sự THÙ VẶT theo cảm tính cá nhân, là cái sự THỂ HIỆN TA ĐÂY QUYỀN LỰC của dăm ba vị tai to mặt lớn (và dày nữa) của Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch. Đấy thực chất là TƯ ĐIỆN chứ CÔNG ĐIỆN quái gì. Ở đây hình như có sự lạm dụng quyền hạn để trút bỏ những ẩn ức cá nhân, họ mượn cái CÔNG ĐIỆN cho sang để che dấu, lấp liếm cho sự HÈN MỌN của mình. Là trừng phạt theo kiểu ĐÀN BÀ í. Ý, anh là người của Bộ thuộc Trung Ương, quyền lực của anh to thế mà chúng mày dám đặt dưới cơ của mấy thằng ở Ninh Bình à. Anh giận nên anh kỷ luật. Chuyện chỉ đơn giản thế chứ làm đéo gì có cái gọi là ý thức chính trị gì ở đây. Ối giời, các anh mà ý thức chính trị sâu sắc thế thì quá phúc cho đất nước này. Tiếc là những thứ mà các anh đang hồn nhiên bày ra thì có độ lượng đến mấy thì người ta cũng khó mà cho rằng các anh có ý thức chính trị. Nhân đạo (hay xuề xòa) hơn thì cứ cho là có cơ mà cái ý thức ấy của các anh nó qua loa, đại khái lắm. Nó sơ xài một cách đáng kinh ngạc.

Dưới đôi mắt của một người quan sát bình dân thôi người ta cũng phải thấy Chương trình nghệ thuật chào mừng năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào là một sự kiện văn hóa đặc biệt quan trọng. Về mặt tư tưởng thì đây là chương trình đánh dấu tình hữu nghị Việt Lào, nó có sự tham dự của các lãnh đạo cao cấp của hai nước. Sâu hơn thế, có mù lòa đui chột thì cũng phải thấy giai đoạn hiện nay là giai đoạn cực kỳ nhậy cảm, Việt Nam đang rất cần sự đồng thuận, ủng hộ của các nước láng giềng trong khu vực trước sự nhũng nhiễu của Bắc Kinh thì các chương trình như thế sẽ có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Trong khi Trung Quốc tung tiền để mua khu vực, ta chả có nên chỉ tranh thủ cái tình thì phải biết tổ chức sao cho cẩn thận chu đáo chứ. Mà chả cần phải đợi đến khi nhậy cảm, các chương trình ở cấp quốc gia thế này phải được tổ chức một cách chuyên nghiệp, bài bản bởi những chương trình như thế là bộ mặt quốc gia kia mà. Nói xin lỗi, nhìn vào những gì các bố đang làm người ta thấy các bố tổ chức chương trình nghệ thuật cao cấp mà còn kém hơn văn nghệ đám cưới miệt vườn. Chuẩn bị thì qua loa, đại khái rồi cũng chả có phương án bọc lót, dự bị để thay thế nếu có sự cố. Ai đời giao cho NSND Quang Thọ, sắp đến ngày diễn thì nghệ sĩ này bị ngã thế là cấp tập cử Trọng Tấn đi thay. Làm ăn kiểu đấy thì họ đỡ cho đã là may, lại còn dỗi. Nói xin lỗi, một event, một hội nghị khách hàng người ta đã chuẩn bị trước đó vài tháng và có đủphương án thay thế trong khi đây là chương trình cao cấp mà các bố cứ duy trì theo kiểu nhà quê. Xét nét nữa người ta thấy chả ai khác ngoài các bố cực kỳchủ quan và xem nhẹ mối quan hệ với Lào. Thử thay chữ Lào bằng Hoa Kỳ hay Nhật Bản thì các bố có dám giữ cái phong cách tổ chức như thế không? Như vậy thì nếu có ý thức chính trị thì các bố phải tự vả vào mồm các bố trước chứ làm gì đã đến lượt Trọng Tấn hay Anh Thơ. Quên mất, các bố xưa nay mải mê làm bố mẹ đời hoặc mặt đã dày như bê tông thì làm đéo gì còn khái niệm xấu hổ đẻ mà tự kỷluật mình. Mới nói là nuôi cái ngữ như các bố lãnh đạo Bộ Văn hóa Thể Thao Du lịch hiện nay nó phí cơm phí gạo của dân kinh lắm! Chỉ giỏi ăn chia cho mập mặt chứ có làm gì ra hồn đâu mà hở miệng ra là nó bảo đứa này ý thức chính trị non kém, khép mồm lại thì nó bảo nghệ sĩ giờ đây đặt cái tôi của mình trên lợi ích đất nước. Thằng nào trong Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch mạnh dạn bước ra vỗ ngực xưng tên bảo mình ý thức chính trị sâu sắc để em Hà Cao và mọi người có cơ hội được nhìn thấy và ngưỡng mộ thử xem. Toàn nói láo!

Tiện thể đang nói về ý thức chính trị thì cũng xin nói luôn là khi làm văn hóa thì không cần phải đến chương trình chào mừng hữu nghị với nước nào đó thì ý thức chính trị mới có dịp trỗi dậy mà nó phải được thể hiện thường xuyên và rõ nét trong các hoạt động văn hóa trong nước. Mà các bố có hiểu ý thức chính trị ở đây là gì không? Các bố làm lãnh đạo văn hóa mà phải nói thật là các bố ngu và u mê lắm! Xin thưa các bố ý thức chính trị ở đây không phải là ca đi ca lại mãi bài ca ngợi Đảng cộng sản quang vinh muôn năm, chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta hay ca ngợi đất nước thời đổi mới nhé bởi đó là thứ ý thức được hiểu theo nghĩa thô sơ và thấp nhất có thể. Ý thức chính trị ở đây là ở chất lượng, là bề sâu của các chương trình, lễ hội văn hóa. Đó là ý thức chính trị ở bậc cao, khi sở hữu được nền tảng ý thức này người ta sẽ hiểu được giá trị to lớn mà văn hóa mang lại cho đời sống. Các hoạt động văn hóa có chất lượng thì tự thân vẻ đẹp của nó sẽ lan tỏa ra cộng đồng, len lỏi vào đời sống và từ đó Việt Nam mới đẹp lên được. Và từ sự đẹpđẽ đấy nó mới tác động tích cực ra thế giới. Nói nôm na là đẹp từ bên trong đấy ạ! Đến đây thì các bố tự soi gương thành tựu của các bố thử xem?

Ta chưa cần phải lấy ví dụ ở đâu cho xa. Hãy lấy một đất nước bị cho là cực đoan, khép kín, kinh tế còn nghèo và lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc là Bắc Triều Tiên nhé! Ở đất nước còn khó khăn là thế mà họ đã có một lễ hội đặc sắc và gây ấn tượng mạnh với thế giới. Đó chính là lễ hội Ariang (Clip)

Nhìn lại xứ sở của các bố thừa mứa ý thức chính trị xem các lễ hội văn hóa thế nào? Xin thưa là năm mười hai tháng, chừa mỗi cái toalet chứ đến chỗ nào cũng đụng lễ hội. Này thì lễ hội hoa, sách, phim, nhạc, pháo, biển, dân tộc, đua thuyền, trái cây, lựu đạn…Vài năm trở lại đây còn có lễ hội kinh khí cầu – một lễ hội phải nói là vô duyên, vô hậu nhất Việt Nam. Trong khi bao lễhội giàu bản sắc của dân tộc đang dần bị mai một và cần được thời đại hóa thì các bố chả làm dưng đi lôi về một lễ hội chả ăn nhập gì đến Việt Nam. Chắc ý các bố là thời này nên tha hồ nhập lễ hội để được tiếng chịu hội nhập.

Lễ hội lắm liên hoan cũng lắm nhưng tổ chức chả ra đâu vào đâu để cuối cùng, các lễ hội cứ thế mà thi nhau nhợt nhạt, thiếu sức sống rồi chết yểu. Bởi lễ hội A cũng bân bẩn như lễ hội B, lễ hội B cũng nhếch nhác tựa lễ hội C, lễ hội C thì lem luốc y chang lễ hội D, chả lễ hội nào ra lễ hội nào. Công thức chung vẫn là dựng sân khấu hoa hòe hoa sói, treo dàn đèn nhấp nháy rồi ca sĩ cứ thế mà quốc ca, đảng ca, tỉnh ca, ngành ca… Cũng chả nơi đâu mà hội chợ, lô tô cùng các gian trò chơi có thưởng như ném lon, ném vòng, ném chun cũng được cho là lễ hội. Nói cách khác, lễ hội ở ta chả khác những cái thai non mà những ông bố bà mẹ đẻ không nỡ, nạo hút không đành, nó cứ ất ơ nửa làng nửa chợ. Người ta cứ thích làm thật nhiều vào, rộn ràng vào, trước khi lễ hội diễn ra thì nổ và khoe mẽ đủ các kiểu, rằng thì lễ hội của chúng tôi sẽ hay hớm thếnày, đặc sắc thế nọ nhưng sau đó cứ trôi tuồn tuột, lễ hội xong không còn đểlại chút ấn tượng gì. Có chăng dăm màn tố nhau của những người trong BTC. Mà lỗi này đâu phải ở họ, đúng hơn là tầm vóc của các nhà quản lý văn hóa – ở đây là Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch quá kém. Kém cả về ý thức, về tài

Ngoài lễ hội ra thì dân trí và đời sống tinh thần của người dân đang được Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch ở ta lo lắng thế nào ạ? Ai ởTP.HCM thi thoảng rảnh thì nhớ ra các công viên mà xem Sở Văn hóa Thể Thao& Du lịch TP.HCM tổ chức các chương trình ca múa nhạc tạp kỷ trong những dịp mừng Đảng mừng xuân thì không buồn nôn ói mửa mới lạ…Rồi cái gọi là văn hóa của thủ đô ngàn năm văn vật hiện đang thế nào nhỉ!? Vứt mẹ nó vào sọt rác chứ khỏi cần phải bình bàn làm gì cho đau đớn.

Tóm lại là, các bố ý thức chính trị cực kém, giỏi nhất có lẽ ở khoản chơi gái, chia chác, ký cọt nhận tiền. Ra đến quốc hội, cùng với bộtrưởng Bộ TTTT, bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao Du lịch phải nói là nhàn nhạ nhất, lành lặn nhất sau mỗi kỳ họp vì các đại biểu quốc hội ở ta (vì thông minh quá chả hạn) chỉ truy các Bộ đang nắm các lĩnh vực sát sườn với đời sống như giao thông, điện đóm, thực phẩm, thuốc thang…còn văn hóa thì hiếm khi nào các đại biểu quốc hội rớ tới. Mà có lẽ muốn rớ thì các vị í cũng chả biết rớ chỗ nào. Là bởi văn hóa là một phạm trù trừu tượng, khó nắm bắt, nó không rõ ràng, chính xác về mặt con số nên các đại biểu của nhân dân lờ luôn cho lành, cho đỡ mang tiếng dốt nếu sẩy miệng. Thế nên mang tiếng là quốc gia có nền văn hóa dài bốn nghìn năm nhưng hiện tại, chúng ta như một quốc gia vô văn hóa vậy. Nếu có chỉ là thứ văn hóa giả cầy.

Mà ngẫm cũng buồn cười nhỉ! Công điện gần như là ý chỉ của quốc gia, của đại cục, ít hay nhiều nó thiêng liêng lắm chứ đâu phải là thứ cứmuốn, cứ thích cứ hứng lên bất tử là lôi ra ký hả các bố. Các bố được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách quản lý văn hóa thì trước hết phải ý thức được điềuđó chứ sao cứ hành xử như một lũ dở hơi thế!? Lần sau, muốn giải quyết những ẩnức cá nhân, những dỗi hờn vặt vãnh thì các bố tự điện rồi gọi ông bà, dòng tộc các bố ra mà ký. Công điện là của nhà nước, không phải của ông bà các bố để lạiđể rồi muốn làm gì thì làm, muốn ký sao thì ký. Lũ nhà quê!

Thông tin thêm: Hôm qua đọc được bài PV NSƯT Trần Bình –Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc nhẹ Việt Nam mà ngẩn ngơ cả buổi. Bởi cái đầu toàn bã đậu thế sao lại có thể chễm chệ ngồi vào cái ghế giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Việt Namnhỉ! Quên mất, ở ta nếu chả dốt, chả nhạt và rỗng tuếch thế thì ai cho lên làm quản lý văn hóa. Nhỉ!?
@by Hà Cao, bansac.net

81 ngày đêm máu lửa tại Thành Cổ Quảng Trị

Lời dẫn: Dù ngày 27/7 đã đi qua, song vừa đọc bài này nghĩ post sang đây để rộng đường tìm hiểu.


Nhân kỷ niệm 40 năm về những sự kiện bi tráng tại chiến trường Quảng Trị, tôi (Ích Duệ) xin tổng hợp rất ngắn gọn từ các nguồn tài liệu khác nhau về bối cảnh, về lực lượng tham gia, về những tổn thất to lớn, không kể xiết về con người trong những tháng năm máu lửa, ác liệt đó. Tôi cũng có đưa ra một vài ý kiến cá nhân.

 

Chiến tranh thật khốc liệt. Biết bao máu xương người Việt của cả hai phía đã đổ trên mảnh đất này. Viết lại những dòng này để chúng ta biết thêm về cuộc chiến mà cả hai cùng tuyên bố chiến thắng. Và nếu có thể, trong tương lai, đừng có thêm những “81 ngày đêm” kia nữa.

1. Bối cảnh

Kể từ sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đến năm 1972 bốn năm trôi qua. Lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hồi phục và ngày càng lớn mạnh. Sau Mậu Thân, Hoa Kỳ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa ở Paris.

Năm 1972 chính quyền Nixon mở đột phá khẩu trong quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô. Các nước lớn muốn dùng Việt Nam như một con bài trên bàn thương lượng, đàm phán vì lợi ích riêng của mình.

Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Không có ứng cử viên nào muốn gây bất bình trong dư luận công chúng Mỹ

Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho rằng, đây chính là thời điểm rất thích hợp để mở một trận đánh chính quy lớn, hợp đồng binh chủng vào lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam cộng hòa tại Mặt trận Quảng Trị, giáng cho chúng những đòn chí mạng.

Về điều kiện thiên nhiên, giai đoạn ác liệt nhất của chiến trường Quảng Trị năm 1972 diễn ra trong thời tiết mưa to nhiều ngày. Nước sông dâng cao, công sự sũng nước. Việc cung cấp đạn được và tiếp tế lương thực, thực phẩm rất khó khăn. Lực lượng phòng ngự trên các chốt, lính tráng phải tát nước suốt ngày suốt đêm, hầm hào bị sụt lở không còn tác dụng che chắn đạn bom.

2. Lực lượng tham gia của hai bên

2.1. Quân đội Nhân dân Việt Nam:


- Các sư đoàn bộ binh: 304, 308, 320B, 324 và 325, sau được tăng cường thêm Sư đoàn 312 từ Lào về.
- 2 trung đoàn tăng, thiết giáp: 202 và 203 với hơn 100 xe tăng T- 34, T- 54, PT 76.
- Một số tiểu đoàn đặc công.
- Bốn trung đoàn pháo binh cơ giới với 408 khẩu gồm: 63 khẩu pháo chiến dịch 130mm, 93 khẩu pháo cấp sư đoàn (122 ly và 105 ly) và 247 khẩu pháo cùng bộ binh (sơ pháo 76mm hoặc 85mm).
- Hai sư đoàn phòng không: Sư đoàn 367 và 376 với 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237 với tên lửa đất đối không SA-2.
- Một số trung đoàn công binh.
- Các lực lượng tại chỗ của Mặt trận B5, B4 và Đoàn 559.

2.2 Quân lực Việt Nam Cộng hòa:


- 2 sư đoàn bộ binh 1 và 3.
- Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến.
- 4 trung đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp: thiết đoàn 7, 18 kị binh, trung đoàn 51 bộ binh.
- 17 tiểu đoàn pháo binh gồm 258 khẩu đại bác cỡ 105mm trở lên (chưa kể các loại pháo bắn thẳng), một số tiểu đoàn công binh.

2.3. Quân đội Hoa Kỳ:
 * Không quân:
- 2 không đoàn máy bay chiến lược B-52 (D và G)
- 1 liên đội máy bay F-111
- 5 liên đoàn không quân chiến thuật F-4 và A-7
- 2 liên đội trinh sát và tác chiến điện tử SR-71, EB-66, EC-121, F-105G
- 2 liên đoàn tiếp dầu KC-135

* Hải quân:
- 6 Tàu sân bay, 135 tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu nổi khác.

Lính tráng chúng tôi gọi pháo từ Hạm đội 7 là pháo bầy, pháo giàn, pháo chụp. Mỗi lần máy bay chiến lược B52 xuất kích từ Thái Lan, chúng tôi đều được báo trước nhưng biết chạy đi đâu.

Thống kê cho thấy thị xã Quảng Trị bị lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ tàn phá với 328.000 tấn bom đạn, 9552.000 viên đạn pháo 105mm, 55.000 viên đạn pháo 155 mm, 8164 viên đạn pháo 175mm, hơn 615.000 viên đạn hải pháo, 2240 lần oanh tạc của không quân (tổng số bom đạn trong 81 ngày đêm bằng sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nhật Bản). Có ngày số bom Mỹ ném ở Quảng Trị vượt xa số bom Mỹ ném trên toàn miền Nam trong hai năm 1968-1969. Dữ dội nhất là ngày 25/7, thị xã phải chịu 5000 quả đạn pháo. Thị xã Quảng Trị với 3 km2 và vùng ven có ngày phải chịu hơn hai vạn quả đạn đại bác cỡ lớn.

Những người chốt giữ Thành Cổ đã chứng kiến hàng chục loại bom pháo khác nhau như: Bom đào, bom phạt, bom bi, bom na ban, pháo khoan, pháo chụp, pháo càng. Đặc biệt lần đầu tiên trên chiến trường Quảng Trị, Mỹ đã dùng loại bom dù – một loại bom mà khi thả xuống lưng chừng, một quả bom mẹ nổ thành hai quả bom con, những quả bom con ấy cũng được dù mang cứ lừ lừ rơi xuống, trông thấy hẳn hoi mà không có cách gì phá nổi.

Xét về trang bị thiết bị kỹ thuật, vũ khí, Quân lực Việt Nam cộng hòa có không quân riêng với hơn 1.200 máy bay; Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có gần 100 máy bay tiêm kích chỉ đủ phòng thủ không phận miền Bắc. Quân lực Việt Nam cộng hòa có hơn 400 máy bay trực thăng chở quân và yểm hộ mặt đất; Quân đội nhân dân Việt Nam không có. Quân lực Việt Nam cộng hòa có không quân chiến thuật (TAC),không quân chiến lược (SAC) (chủ yếu là B-52) và các pháo hạm của Hạm đội 7 yểm hộ; Quân đội nhân dân Việt Nam không có. Bộ binh, quân dù, thủy quân lục chiến của Quân lực Việt Nam cộng hòa tiếp cận chiến trường và tham chiến bằng máy bay trực thăng, tàu đổ bộ LCU, xe thiết giáp M-113 các loại quân xa khác; bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam chủ yếu tiếp cận chiến trường bằng đôi chân. Quân đội nhân dân Việt Nam có SAM-2, SAM-7 và pháo cao xạ nhưng phải vừa yểm hộ chiến trường, vừa phòng thủ toàn bộ không phận miền Bắc với cơ số đạn hạn chế do Trung Quốc cố tình làm chậm việc chuyển hàng quân sự từ Liên Xô đến Việt Nam và Không lực Hoa Kỳ phong tỏa các cảng của Bắc Việt Nam từ ngày 6 tháng 4 năm 1972. Trong năm 1971, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ nhận được 58 xe tăng T-54, 18 xe tăng T-59 (do Trung Quốc chế tạo), 27 xe tăng lội nước hạng nhẹ PT-76 (do Ba Lan chế tạo). Dù sao, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng đã có thể huy động một lực lượng tăng thiết giáp tham gia chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay.

Như vậy, xét về số lượng đơn vị tham chiến, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam nhiều hơn. Tuy nhiên, xét về số lượng quân trực tiếp chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam không nhỉnh hơn mà thậm chí còn ít hơn vì hàng ngày bị thương vong rất lớn bởi hỏa lực pháo, bom của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ và của Quân đội Việt Nam cộng hòa.

Xét về hỏa lực không quân, pháo binh và hải quân thì phía Quân đội Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam cộng hòa có ưu thế vượt trội so Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là giai đoạn sau của chiến dịch khi mùa mưa đến khâu tiếp tế vũ khí gặp rất nhiều khó khăn.

3. Tóm tắt diễn biến chính và chiến thuật
- Diễn biến chính

Năm 1972, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức tổng tấn công trên 3 chiến trường chính: Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên, và Đông Nam Bộ (Bình Long, Bình Phước), trong đó hướng chủ yếu là Quảng Trị.


Đúng 11 giờ 30.03.1972, Quân đội nhân dân Việt Nam đồng loạt tiến công các căn cứ, hệ thống phòng ngự của quân đội Việt Nam cộng hòa, vô hiệu hóa 12 trận địa pháo của chúng. Trong vòng chiến đấu 1 tháng, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội và du kích địa phương của tỉnh Quảng Trị làm chủ nhiều huyện lỵ. Để nhanh chóng kiểm soát Quảng Trị, ngày 01.5.1972, quân chủ lực thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 và Sư đoàn 320 hiệp đồng tiến công từ La Vang vào trung tâm thị xã, cắm lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam lên nóc dinh Tỉnh trưởng Quảng Trị.

Trong đợt tấn công đầu tiên này, cả tập đoàn phòng ngự của Quân lực Việt Nam cộng hòa với trên 3 vạn quân, 178 máy bay, 11 tàu chiến, 320 xe tăng, 237 khẩu đại bác đã bị phá vỡ trước những cuộc tiến công như vũ bão của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bị mất tỉnh Quảng Trị, Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam cộng hòa huy động nhiều sư đoàn và phương tiện, vũ khí hiện đại hòng chiếm lại tỉnh Quảng Trị mà trước hết là Thành Cổ bằng mọi giá.

Từ giữa tháng 6, Quân lực Việt Nam Cộng hòa dồn lực lượng phản công với sự tham gia có tính chiến lược của không quân, hải quân Hoa Kỳ và bắt đầu lấy lại ưu thế trên chiến trường. Đến đầu tháng 7 họ đã tiến đến thị xã Quảng Trị.

Cuộc chiến 81 ngày đêm ở thị xã và thành cổ Quảng Trị (thành Đinh Công Tráng) đã diễn ra vô cùng căng thẳng, ác liệt. Cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề về quân số. Đêm 15.9.1972 Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu rút có tổ chức ra khỏi thành cổ và thị xã Quảng Trị.

Sáng ngày 16.9.1972 một nhóm binh sĩ thuộc tiểu đoàn 6 Thủy quân lục chiến đã cắm cờ Việt Nam cộng hòa trên cổng thành phía tây của thành cổ Quảng Trị.

- Về chiến thuật:

Giai đoạn đầu lực lượng bộ binh của Quân đội nhân Việt Nam với sự yểm trợ tối đa của pháo binh và xe tăng tấn công như vũ bão vào lực lượng của Quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân lực Việt Nam cộng hòa bị bất ngờ, không thể chống đỡ nổi đã phải rút lui. Sư đoàn 3 bị loại khỏi vòng chiến. Quân đội Việt Nam đã thành công trong cách đánh hợp đồng binh chủng: Lục quân- Pháo binh- Tăng, thiết giáp.

Giai đoạn sau Quân lực Việt Nam cộng hòa với sự yểm trợ vô cùng có hiệu quả của không quân, hải quân và pháo binh, trong đó có máy bay chiến lược B 52 và lực lượng pháo binh của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đã bền bỉ, quyết liệt phản công Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngay trong giai đoạn bị đối phương phản công quyết liệt, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn lúng túng giữa phòng ngự và tấn công, không chuyển sang tích cực phòng ngự. Lúc đó, những người lính chúng tôi đang vô cùng chật vật phòng ngự mà vẫn được quán triệt là phải chuẩn bị tấn công Thừa Thiên- Huế. Không có hệ thống phòng ngự vững chắc lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam bị thương vong rất lớn khi đối phương phản công mạnh mẽ. Sau này Quân đội nhân dân Việt Nam mới chuyển sang phòng ngự chủ động theo chiều sâu.

Sau khi rút khỏi thị xã Quảng Trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập phòng tuyến vững chắc chống lại Quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân lực Việt Nam cộng hòa tổ chức chiến dịch Lam Sơn 72A và các cuộc hành quân “Sóng thần” để tái chiếm bờ bắc sông Thạch Hãn, đánh chiếm Cửa Việt nhưng đã bị Quân đội nhân dân Việt Nam đánh bại. Hai bên quay về giữ thế giằng co cho đến khi hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1 năm 1973.

4. Những tổn thất của hai bên

Theo số liệu đã công bố tại mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng Quảng Trị (01.05.1972- 01.05.2012) trên toàn bộ chiến trường Quảng Trị trong năm 1972 Quân đội nhân Việt Nam đã tiêu diệt 26.000 quân của quân đội của chính quyền Sài Gòn. Quân đội nhân dân Việt Nam bị thiệt hại 36.000 quân.


Sau 81 ngày đêm chiếm giữ Thành Cổ và thị xã Quảng Trị, Quân đội nhân dân Việt Nam đã bị tổn thất nặng. Riêng Trung đoàn Triệu Hải (Trung đoàn 27 Mặt trận B5) với hơn 1.500 quân cố thủ trong Cổ Thành đã bị thương vong gần như toàn bộ tại trận địa, chỉ còn chưa đến 1 tiểu đội thoát ra ngoài vào đêm 15.9.1972. Chi tiết về trung đoàn này cũng đã được phóng viên Báo Tuổi trẻ ghi lại theo lời kể của một cựu chiến binh (một trong chưa đến chục người sống sót của trung đoàn này) qua bài ký đăng trong số báo ra ngày 26 tháng 7/1998, có đoạn: “Tết năm 1968, ngay sau khi trung đoàn được thành lập ở miền Bắc, một tháng sau trung đoàn này có mặt tại Quảng Trị. Từ đấy cho đến năm 1972, Quảng Trị đã trở thành chiến trường của trung đoàn 27, và ở đây, họ mang một cái tên mới: Trung đoàn Triệu Hải (tên của hai huyện đồng bằng Quảng Trị ghép lại)… Phải đến bây giờ, chúng ta mới được nghe cả một trung đoàn vào giữ Thành Cổ, lúc rút ra còn chưa đến một tiểu đội”.

Ngoài Trung đoàn Triệu Hải (Mặt trận B5) gần như bị xóa sổ, Trung đoàn 48 B thuộc Sư đoàn 320B – đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số.


Về phía Quân lực Việt Nam cộng hòa, tuy tái chiếm được thành cổ nhưng cũng phải trả giá rất đắt. Kế hoạch chiếm thị xã trước ngày 13/7 để mặc cả tại Hội nghị Paris không thực hiện được mà còn phải mất gấp 5 lần thời gian định trước. Để chiếm lại thành cổ, chỉ riêng Sư đoàn Thủy quân Lục chiến có 3.658 binh sĩ tử trận, chiếm 25% tổng quân số (tổng thương vong là hơn 5.000 chiếm 38% quân số). Các đơn vị thuộc Sư đoàn Dù và các đơn vị khác cũng chịu thiệt hại nặng tương đương.

Thiệt hại rất lớn của các đơn vị tinh nhuệ này khiến Quân lực Việt Nam cộng hòa không đủ sức tấn công tiếp ra phía bắc. Các chiến dịch Lam Sơn 72A và các cuộc hành quân “Sóng thần” để tái chiếm bờ bắc sông Thạch Hãn và đánh chiếm Cửa Việt đã bị thất bại.

5. Tại sao Quảng Trị ?

Vùng đất Quảng Trị là nơi đối đầu, là nơi mà cả hai bên Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa đều muốn thể hiện sức mạnh của mình. Nói rộng ra, Quảng Trị cũng là nơi hai phe XHCN và phe TBCN đối đầu nhau về sức mạnh quân sự. Tất cả các vũ khí hiện đại được Hoa Kỳ sử dụng ở đây từ những năm 65-68, nhất là tại Mặt trận Khe Sanh- Đường Chín.

Năm 1972 Quân đội nhân dân Việt Nam đã phải tung vào chiến trường lực lượng dự trữ chiến lược của mình là Sư đoàn 308, Sư đoàn 312. Chính quyền Sài Gòn cũng đã phải huy động hai sư đoàn thuộc lực lượng dữ trữ chiến lược và thiện chiến nhất là Sư dù và Sư Thủy quân lục chiến trực tiếp chiến đấu ở Mặt trận Quảng Trị.

Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam DCCH muốn khẳng định mạnh mẽ với thế giới rằng: Chúng tôi giải phóng được một tỉnh địa đầu của miền Nam Việt Nam và hoàn toàn có thể giữ được tỉnh này. Giữ Quảng Trị trong điều kiện Hoa Kỳ chi viện tối đa về hỏa lực không quân, hải quân là để Việt Nam dân chủ cộng hòa có thế mạnh trong đàm phán với Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa ở Paris.

Về phía Việt Nam cộng hòa, họ không thể cam chịu mất tỉnh địa đầu của mình vì chiếm được Quảng Trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam có bàn đạp để tiến đánh các tỉnh khác. Từ đây có thể gây phản ứng dây truyền mất tiếp những tỉnh khác.

Chính quyền Việt Nam cộng hòa cho rằng, chiếm lại được Quảng Trị sẽ gây tiếng vang lớn trên thế giới, sẽ gây sức ép được với chính quyền Hà Nội và cả chính quyền Hoa Kỳ (đang muốn bỏ rơi miền Nam Việt Nam) trên bàn đàm phán ở Paris. Mặt khác, chính quyền Sài Gòn cũng muốn chứng minh: Mặc dù quân đội Mỹ không còn trực tiếp tham chiến bằng bộ binh nữa thì Quân lực Việt Nam cộng hòa vẫn hoàn toàn có thể đứng vững, chiến đấu và có thể chiến thắng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thị xã Quảng Trị, Thành cổ Quảng Trị trở thành địa điểm tượng trưng cho tỉnh Quảng Trị. Chiếm được Thành Cổ được coi như là chiếm được tỉnh Quảng Trị. Thành Cổ Quảng Trị được cả thế giới biết đến.

81 ngày đêm máu lửa đã diễn ra…Trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương chưa có nơi nào chiến sự diễn ra ác liệt và bi tráng như tại Thành Cổ Quảng Trị năm 1972!

Ích Duệ. Cựu chiến binh chiến trường Quảng Trị@ bài rút bên Hiệu Minh blog


Chữ dùng của Phọt-phẹt

Các bác vào Phọt-phẹt thì nhiều chuyện, nhiều ảnh lắm. Nhưng tay này rất tục, cách dùng từ ngữ của y khá độc đáo, chỉ xin trích vài hình:



Noa, noa, noa...



há há há ...



cóc kêu mưa



đường lên nóc tủ



xác nhận khỏe
(honngv: Tương tự chuyện: Viện Nông nghiệp nọ cấp cho nông dân giống lúa mới có tên là: GL 1509)



đến cái nết ỉa cũng có duyên



tới đi các bác



xin anh tha cho iêm



cây giao hợp

Tạm trích thế thôi!

28 thg 7, 2012

Xem cái hầy!

Xin mời xem fim: "Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát":
http://www.youtube.com/watch?v=avGu-fCq2ZU&feature=related

Cảnh báo: Gà loại thải Trung Quốc

Mỗi ngày hơn 10 tấn gà loại thải Trung Quốc vào Hà Nội

Ngày 26/7, ông Nguyễn Huy Đăng, phó giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội cho biết, hiện mỗi ngày có khoảng hơn 10 tấn gà loại thải của Trung Quốc được đưa về tiêu thụ ở chợ đầu mối gia cầm Hà Vỹ (huyện Thường Tín, Hà Nội).

Đây là gà già, còn tồn dư kháng sinh, hormon... không đảm bảo chất lượng.

Theo ông Đăng, lượng gia cầm bán ra ở chợ Hà Vỹ khoảng 70.000 con/ngày, trong đó gà loại thải của Trung Quốc chiếm hơn chục tấn.

“Đây là vấn đề nan giải. Chúng tôi đang làm việc với Lạng Sơn, Quảng Ninh... để kiểm soát tình trạng vận chuyển lậu gà loại thải. Bởi quan trọng là phải xử lý tại gốc, chứ xử lý trên đường thì rất khó vì họ vận chuyển 24/24, không thể kiểm soát hết được. Mặt khác, muốn dừng xe phải có cảnh sát giao thông, chứ ông thú y không được phép dừng. Việc vận chuyển gà loại thải có cả đường dây, từ đầu biên giới, và thường vận chuyển vào thời điểm 1-2 giờ sáng, công an cũng phải điều tra kỹ mới bắt được”, ông Đăng nói.

Cũng theo ông Đăng, gà loại thải Trung Quốc nếu không có giấy tờ kiểm dịch, sẽ bị xử lý tiêu huỷ. “Tuy nhiên, cái khó là họ nhập về Lạng Sơn, Bắc Giang... và chỉ cần nuôi gần một tháng, sau đó làm giấy tờ kiểm dịch thú y thì không thể xử lý, vì “con gà không biết nói tiếng Trung Quốc”.

Gà loại thải dân Trung Quốc không ăn, mà sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, nhưng dân mình cứ “chén”, nhất là phục vụ làm phở. Gà loại thải mua ở Trung Quốc chỉ từ 6.000 – 7.000 đồng/kg, nhưng về Việt Nam bán với giá tới 25.000 – 30.000 đồng/kg.

Theo Châu An
Nguồn: Dân trí.

Ảnh Trường Sa

Mình gửi lên đây một số ảnh về Trường Sa (trong số rất nhiều ảnh) mà con trai mình đã chụp khi đi công tác Trường Sa hồi tháng 4 để mọi người thêm yêu quí biển đảo của Tổ Quốc.
Nơi xuất phát và cặp bến của những con tàu: Quân cảng
Lý Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng
Đêm trăng trên biẻn
Đảo Đá Nam nhỏ bé giữa trùng khơi
Đón đoàn công tác có cả những chú cún xinh xinh
Trồng rau xanh trên đảo
Chú lợn có nước da rám nắng

Xả Stress cái nào


1- Chọn đàng nào ?
 
Chồng đang xem ti-vi thì vợ giục:
 - Anh đi chợ đi!
 - Đó không phải là công việc của đàn ông! chồng đáp.
 - Thế hả? Vậy thì lên giường ngay, tôi sẽ giao cho anh việc của đàn ông!
 - Thôi được rồi! Cái giỏ đi chợ đâu?.

2- Đàn ông đi chợ
Truyện tranh: KHI CHỒNG ĐI CHỢ, Cười 24H, truyen tranh, tranh vui, truyen tranh hai, bao, hai huoc, thu gian, cuoi
Truyện tranh: KHI CHỒNG ĐI CHỢ, Cười 24H, truyen tranh, tranh vui, truyen tranh hai, bao, hai huoc, thu gian, cuoi
 Truyện tranh: KHI CHỒNG ĐI CHỢ, Cười 24H, truyen tranh, tranh vui, truyen tranh hai, bao, hai huoc, thu gian, cuoi
 Truyện tranh: KHI CHỒNG ĐI CHỢ, Cười 24H, truyen tranh, tranh vui, truyen tranh hai, bao, hai huoc, thu gian, cuoi

3- Vận đen

 Hai người đàn ông nói chuyện với nhau:
 - Hồi này cậu thế nào?
 - Đen đủi lắm! Hôm nọ, tớ cho một cô gái đi nhờ xe, sau đó, cô ta lại còn kiện tớ, buộc tớ tội quấy rối tình dục. Tòa án bắt tớ phải nộp tiền phạt. Nhưng khi trông thấy cô ta, tòa lại còn phạt thêm tớ về tội lái xe trong tình trạng không tỉnh táo…

4- Ruồi đực ruồi cái

 Bà vợ bước vào bếp thấy chồng đang cầm cái đập ruồi.
 - Ông đang làm gì vậy
 - Đập ruồi.
 - Có bắt được con nào không?
 - Hai con đực, ba con cái.
 Bà vợ cười hỏi:
 - Làm sao mà ông biết?
 - Thì hai con đực đậu trên miệng lon bia, còn ba con cái đậu trên chiếc điện thoại.

Nhặt trên Net

27 thg 7, 2012

Một bài viết rất đáng để đọc và suy ngẫm

Một bài viết về ngày 27/7 gây xôn xao cư dân mạng

“Chiến tranh không đùa với ai cả, cũng không phải cứ hạ súng thì đã là kết thúc thế nên, còn hòa bình được ngày nào, hãy cố mà gìn giữ…”

“Bởi chiến tranh đâu phải trò đùa”

Nhân ngày Thương binh - liệt sỹ 27/7, PV đã nhận được một bài viết rất cảm động của độc giả Lê Thị Hương (25 tuổi, Chí Linh - Hải Dương) chia sẻ câu chuyện về người bố là thương binh hạng 2/4 của mình, bác Lê Anh Tuấn (nhập ngũ lần đầu năm 1974, lần 2 năm 1978, tham gia chiến đấu và bị thương ở chiến trường Campuchia).

Bài viết còn là những suy nghĩ rất thật, rất chân thực về chiến tranh của một người trẻ tuổi, người chưa hề biết thế nào là chiến tranh. Hiện bài viết đang lan truyền rất nhanh trên cộng đồng mạng và gây xúc động cho nhiều người.
 
Bố em, 18 tuổi vào bộ đội. Năm đó là 1974, chiến tranh đã vào hồi cuối, bố là lớp tân binh nên còn huấn luyện chán chê để rồi tuyển lựa "đi B". May mắn thay, bố chưa đến đợt đi B thì chiến tranh kết thúc, 1977 bố giải ngũ trở về, cưới vợ.
Một bài viết về ngày 27/7 gây xôn xao cư dân mạng
Lê Thị Hương, tác giả của bài viết đã gây xúc động mạnh trên cộng đồng mạng trong những ngày qua. (Ảnh do tác giả cung cấp)

Tháng 8/1978, chị cả em ra đời, sau đó chỉ một tháng, chú Tư - em trai ruột của bố em, có lệnh gọi nhập ngũ. Chú vừa nhát vừa hiền, lại vừa cưới vợ nên bố xin đi thay chú. Đất nước đang cần người đã có kinh nghiệm, đơn tình nguyện của bố được chấp thuận ngay. Mẹ em, chị và ông bà tiễn bố lên đường.

Vài tháng sau, bố đi K (chiến trường Campuchia). Chuyến tàu đưa bố đi từ ga Hải Phòng, đơn vị bố có hơn 40 người Hải Phòng, vào đến Quảng Trị còn 14 người. Họ nhảy tàu vì đi B thì sẵn sàng nhưng đi K thì khác.

Thời gian đầu còn có chút tin bố về nhà, càng về sau càng biền biệt. Mấy năm sau có giấy báo tử gửi về, bà nội khụy xuống trước thềm nhà. Suốt tháng trời bà mê man chỉ đòi chống gậy đi tìm con, bà bảo bố em không thể nào chết được.

Mẹ ôm chị gái em từ căn nhà riêng về ở với ông bà vì chị ốm quá, lên sởi mủ xanh mủ vàng đã có lần thiếp đi, chú mang ra góc giường đặt, mẹ khóc ngất, bỗng thấy cánh tay chị vời lên, mẹ lại ôm chị, chăm nuôi bú mớm. Những năm tháng ấy, bố vẫn biền biệt bên kia, không hay biết gì về tình cảnh bi đát của con thơ, mẹ già.

Rồi bố bị thương trong một lần đi họp giao ban buổi tối: đạp trúng mìn, bàn chân dập nát, đồng đội đưa về trạm quân y dã chiến giữa cánh đồng hoang. Sợ tiếp tế đến không kịp, bác sĩ y tá cưa chân cho bố, cưa sống, đồng đội hát quốc ca bao nhiêu vẫn không át nổi tiếng gào thét.

Rồi 2 ngày sau bố mới được chuyển về Sài Gòn bằng trực thăng, lần này nằm viện, cưa thêm một lần nữa vì vết cưa cũ bị nhiễm trùng. Điều dưỡng thêm vài năm nữa 1/3 chân phải của bố đã không còn, một mảnh đạn găm ở đùi và hai tai bị điếc nhẹ.

Bố về nhà với giấy chứng thương 2/4, mất sức 65%. Nhưng còn về được đã là đại phúc cho cả nhà mình, bố kể hồi mới sang được 1 tháng, chính tay bố đã phải gói hài cốt của bạn mình để trực thăng mang về.

Ngày bố về, nét mặt dữ dằn hơn, những cơn đau mê sảng thỉnh thoảng vẫn trở lại, chị em nhất định không nhận bố vì sợ cái nạng và cái chân gỗ bố tháo ra lắp vào mỗi sáng tối. Ngay cả đến đời con trai của chị, cháu ngoại của bố, mỗi lần nhìn cái chân ấy nó đều khóc thét.

Bố mất cả tháng giời chỉ để làm quen và ôm con gái mình vào lòng mà không làm nó sợ. Đúng, em là gái, em chỉ nhìn những thứ xung quanh mình, em nhìn thấy chiến tranh và hậu quả của nó trong suốt 18 năm sống bên bố, những lần sợ hãi đến run rẩy khi bố em mắt vằn tia máu lên nóng giận vì những điều không lớn lao gì, khi bố em những đêm rên rỉ trong vô thức vì mảnh đạn trong người, khi bố em có những lần đi xe máy hơi quẹt xe đã ngã vì không thể dùng chân giả mà chống như người ta được.

Bố em chưa một lần than vãn gì về chiến tranh, kêu ca gì về sự đãi ngộ của nước nhà cho những người thương bệnh binh như bố, bố vẫn bươn trải bán buôn ngược xuôi để nuôi con học hành.

Em nhớ mãi một lần lớp 11, em học kém bị bố đánh, đánh xong bố nói rất nhiều, nhưng có một câu em không thể nào quên được, bố bảo: "Chị em chúng mày đang đi học bằng tiền xương máu của tao đấy con ạ". Đúng, chúng em từ Cấp 1 cho đến hết Đại học đều được miễn học phí vì bố là thương binh.

Bao nhiêu năm em sống trên đời là bấy nhiêu năm em thấy mẹ chăm bẵm bố em từ miếng cơm, phích nước, ấm trà, là thấy mẹ chịu đựng đủ sự nóng nảy của bố do thay đổi tâm tính từ lúc trở về.

Có đôi lần ai đó nói đến chiến tranh, mẹ em chỉ lơ đãng nói một điều: "Kể cả có chiến tranh, thằng HA (em trai em) nhà này cũng không bị gọi đi nhập ngũ đâu, nó con một, bố lại thương binh yếu đuối thế kia".

Các bạn có thể cười rằng mẹ suy nghĩ hạn hẹp và ích kỷ, nhưng nếu các bạn đã từng vùi cả tuổi xuân của mình để chờ chồng, nuôi cha mẹ già con thơ và dành cả cuộc đời để xoa dịu những vết thương chiến tranh, các bạn sẽ dễ cảm thông cho mẹ em biết chừng nào. Chiến tranh không đùa với ai cả, cũng không phải cứ hạ súng thì đã là kết thúc thế nên, còn hòa bình được ngày nào, hãy cố mà gìn giữ.

 Lê Thị Hương

Chả lẽ lại chửi tục


Được đăng bởi Văn Công Hùng vào lúc 09:21:00, ngày 26 tháng bảy năm 2012

CHẢ LẼ LẠI CHỬI TỤC

Là sau khi nghe VTV1 đọc nguyên văn cái thông báo của công an Hưng Yên về vụ tẩn 2 nhà báo.

Nhưng trang web của mình là trang sạch, nên thôi, cương quyết không chửi tục, nín lại đấy, phải giữ thể diện, chứng tỏ là mình có văn hóa. Với lại, cũng không bất ngờ lắm với kết luận này.

Ngửa cổ lên trời khóc 3 tiếng cười 9 tiếng vậy...

Nhưng như thế cũng còn là nhanh hơn vụ Tiên Lãng. Và cũng thắc mắc chút, là chả lẽ họ coi dân như... trẻ con?


Nhân ngày 27/7 nhìn lại Gạc Ma

    Với tinh thần ngày TB-LS 27/7 kg thể kg nghĩ lại trận chiến Trường Sa - Gạc Ma năm xưa.
    Ừ thì có đc lệnh nổ súng lúc đó, hơn 70 chiến sỹ hải quân ta vẫn thua nhưng đỡ tủi hổ hơn khi có lệnh "không được nổ súng"!!!!!!!!!!! (Giờ thì ai cũng phần nào biết đc tại sao có cái lệnh ấy). 
    Sau khi hy sinh, các LS Gạc Ma nói riêng, các TB, LS tham gia cuộc chiến Biên giới 1979 cũng hầu như đi vào quên lãng! Những cán bộ chiến sỹ phục vụ việc giữ gìn biên giới sau cuộc chiến cũng chìm vào bóng tối!
    Vào Gúc loáng cái ra tỷ bản tin, xin post lên đây 1 vài bài:


Trường Sa - Gạc Ma 1988: 24 năm nhìn lại
Theo blog Mẹ Nấm

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Thống tướng Douglas MacArthur của Hoa Kỳ đã để lại một câu nói bất hủ: "Old soldiers never die, they just fade away " - Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ mờ nhạt đi.

Nhưng tại Việt Nam, có những người lính trẻ đã chết, cái chết của họ không chỉ mờ nhạt đi mà còn bị chôn vào quên lãng, bị xoá mờ chứng tích. Đó là những người lính Việt Nam đã hy sinh vì Tổ quốc để bảo vệ núi rừng và biển đảo của tổ tiên.

24 năm sau trận Hải chiến Trường Sa – Gạc Ma (14/03/1988) không một dòng thông tin nào nhắc về biến cố này. Điều này hoàn toàn không giống như những sự kiện lịch sử khác luôn được báo chí, truyền hình và hệ thống thông tin cơ sở nhắc đến nhiều lần trước ngày kỷ niệm.

Những người Việt Nam sử dụng Internet hiện tại biết nhiều đến trận hải chiến này phần nhiều qua một đoạn video clip do phía Trung Quốc công bố trên Youtube mô tả cảnh hải quân nước này nã nhiều loạt súng máy phòng không 37 ly cùng pháo 105 ly vào lực lượng hải quân công binh Việt Nam tay không vũ khí đang dầm mình trong nước bám trụ giữ đảo.

Tháng 9 năm ngoái, trong một buổi lễ kỷ niệm cuộc gặp gỡ của các cựu chiến binh đã chiến đấu trên tàu HQ604 trong chiến dịch CQ88 tại Trường Sa (1988) có tên “Vòng tròn bất tử” do Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa tổ chức tại khu du lịch Suối Lương (Đà Nẵng), chín cựu binh sống sót sau trận chiến này mới có dịp gặp lại nhau sau khi bị bắt và được trao trả về Việt Nam 1992. Một trong số chín người này đã mất vì bệnh ung thư.

Tôi không được tham dự cuộc gặp gỡ này với lý do “nhạy cảm”, mặc dù trước đó đã nhận được sự đồng ý của Ban tổ chức chương trình nên đã bỏ lỡ phần chia sẻ của những nhân chứng lịch sử và những khoảnh khắc xúc động của cuộc gặp gỡ này.

“Khi tàu bị tấn công, lính và sĩ quan mình trúng đạn ngã la liệt. Tui chỉ kịp xé áo người này quấn cho người kia để cầm máu”, cựu binh Dương Văn Dũng kể. “Tui nhớ đang băng vết thương cho anh Trừ (Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ – HQ604) thì nghe ‘ầm’ rồi tàu chìm.”

“Bọn này ôm phao trôi nổi trên biển gần 12 tiếng đồng hồ mới được bọn nó vớt”, Lê Minh Thoa thuật lại bằng giọng Bình Định, “vậy mà 3 ngày sau là hết bọn tui bị lột da từ đầu đến chân”.

“Cho đến gần đây vợ tui mới tin tui từng chiến đấu ở Trường Sa rồi bị Trung Quốc bỏ tù”, cựu binh Trương Văn Hiền kể, “trước nay nó cứ tưởng tui bị đi tù rồi bịa chuyện để nói với con”. Đứa con gái thứ hai của anh Hiền, năm nay 6 tuổi, thuộc lòng tên các hòn đảo ở Trường Sa, nơi cha mình từng chiến đấu. “Nó cứ đòi coi cái đĩa quay cảnh chiến đấu ở Trường Sa của tui”, anh Hiền nói. ((*))
(Trích từ bài viết “Vòng tròn bất tử” - Trung Bảo)

Tất cả những người cựu binh có mặt trong cuộc gặp gỡ hôm đó đều bật khóc khi được xem lại đoạn phim quay cảnh hàng loạt đồng đội của mình đã ngã xuống dưới làn đạn của lính Hải quân Trung Quốc trên đảo Cô Lin, Gạc Ma…

Những người thân của các chiến sĩ công binh đã nằm xuống trong trận chiến Trường Sa – Gạc Ma 1988 đến giờ vẫn tiếp tục tìm kiếm sự thật về sự hy sinh của chồng, của cha mình.
Chị Mai Thị Hoa, vợ liệt sĩ thiếu úy Trần Văn Phương bật khóc khi xem đoạn phim kể chuyện chồng mình hô to khẩu hiệu “Thà hy sinh chứ không để mất đảo. Hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ biển Đông chứ cương quyết không để mất đảo”

24 năm trôi qua, vẫn là sự im lặng thường thấy đối với biến cố lịch sử này. Thật khó tin đó là sự thật khi có quá nhiều chương trình kêu gọi đóng góp để xây dựng Trường Sa.

Tại sao những người cựu binh, lẽ ra phải được chào đón và tôn vinh như những anh hùng bởi họ là những nhân chứng lịch sử có thật và xác đáng nhất cho “sự vô nhân bất tín” của nước láng giềng “hữu hảo” Trung Quốc lại muốn quên đi những ngày tháng này?

Có lẽ, những người cựu binh Trường Sa – Gạc Ma năm xưa cũng không thể ngờ rằng, 24 năm sau, nhiều người Việt Nam khác vẫn đang tiếp tục tìm kiếm thông tin về những gì đã xảy ra, và vẫn tiếp tục nỗ lực âm thầm đấu tranh cho sự thật nhằm giữ đảo cho muôn đời sau.

Có những cái chết bi tráng. Nhưng chắc không có đau đớn nào bằng cái chết của sự thật về những cái chết bi tráng đó. Người ta bằng mọi cách đã xoá đi những vết tích anh hùng của một dân tộc trong khi luôn ra sức ca tụng những anh hùng không có thật. Và có lẽ chỉ có ở Việt Nam mới có chuyện anh hùng bị phân biệt đối xử một cách rạch ròi. Sự xếp loại không tuỳ thuộc vào những người đã nằm xuống vì đại nghĩa, vào xương máu của họ đã đổ ra như thế nào.

Ở Việt Nam, các anh hùng có được ghi nhớ hay không - Điều này tùy thuộc vào kẻ thù đã bắn những viên đạn xâm lăng vào họ.


Ẩn hiện bóng ma sợ hãi

Có thể rất nhiều bà con chưa được đọc mẩu tin dưới đây:
Phát hiện hài cốt liệt sĩ VN ở đảo Gạc Ma (Trường Sa)

Nguồn tin từ Vùng 4 hải quân cho biết trong khi đánh bắt hải sản ở gần đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa), một số ngư dân VN phát hiện và vớt được hài cốt của bốn liệt sĩ hải quân VN hi sinh trong trận chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma (14-2-1988) và đã trao cho bộ đội Trường Sa. Quân chủng hải quân VN đã giao mẫu hài cốt cho pháp y quân đội giám định, xác định danh tánh bốn liệt sĩ này (đối chiếu với ADN của thân nhân 64 liệt sĩ VN hi sinh ở Gạc Ma trong trận chiến nói trên). Tàu Trường Sa 21 – Hải quân VN đã đưa bốn bộ hài cốt liệt sĩ nói trên về đất liền, làm lễ tưởng niệm tại đoàn M29 – Hải quân VN.

V.T.

Nếu cố sợt trên mạng, ta sẽ được ít nhất 2 kết quả khác nhau liên quan tới cái tin này, một là từ Tinnhanhvietnam.net – nó được đăng cuối đoạn tin chính: Truy điệu, an táng 1.009 hài cốt liệt sĩ tù binh Phú Quốc. Rõ ràng tin này lấy hoàn toàn từ Tuổi trẻ Online ngày 22/12/2008. Nhưng tìm ngược về trang Tuổi trẻ, cũng vẫn cái tựa này, thì… ôi thôi… hồn cốt của bốn liệt sĩ ở Gạc Ma đã biến mất. Sao có chuyện lạ vậy?

Sự thực thì các liệt sĩ của ta không tự nhiên biến mất, mà số phận của các anh sau khi ngã xuống vẫn còn rất nhiều gian truân. Cái tin ngắn đó, khi đầu đã bị Tuổi trẻ từ chối, nhưng Tiền phong liều đăng. Kế đến, Tuổi trẻ sau khi được cho biết vậy, cũng liều theo. Để rồi chỉ ngay trong ngày, cả hai trang báo đều gỡ tin này xuống.

Chưa hết. Nếu bản tin được đăng đầy đủ, nó còn có đoạn quan trọng sau: “Chiều 19-12-2008, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn xác nhận, Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao VN đã có văn bản đề nghị phía bạn tạo điều kiện tàu ta ra quy tập hết hài cốt bộ đội hy sinh về, nhưng đến nay phía bạn chưa hồi âm“. Và cho đến trước lúc BS công bố ở đây, mẩu tin quan trọng này vẫn được giữ … bí mật.

Vậy có cái “bóng ma sợ hãi” nào ở đây? Đâu phải linh hồn của các liệt sĩ Gạc Ma, dù không có mặt trọn vẹn trên mặt báo, nhưng mãi mãi vẫn trong lòng chúng ta. Thứ “bóng ma” đó cũng chẳng phải là những mẩu tin về các anh, khi được đăng lên, lúc thì biến mất. Mà đó là những con người “vô hình”, bị ám ảnh bóng ma sợ hãi, nhưng lại đang ám chúng ta. Phải chăng đằng sau đó, còn cả thứ bóng ma của cái gọi là “tình hữu nghị”, mà đến “nghĩa tử nghĩa tận”, kẻ thù trên trận mạc cũng còn biết đến, nữa là…?

Ký ức về đồng đội ngã xuống ở Trường Sa

"Trường Sa luôn trong trái tim tôi và những đồng đội nằm ở đó", ông Dũng cất giọng sang sảng, tay đặt lên khuôn ngực đen sạm in những vết sẹo do mảnh đạn pháo. Ký ức về những đồng đội hy sinh ở Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa) năm 1988 chợt ùa về.

Cựu binh Trần Thiên Phụng chụp ảnh với vợ trước ngày lên đường nhập ngũ. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Cựu binh Trần Thiên Phụng chụp ảnh với vợ trước ngày lên đường nhập ngũ. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Sau Tết Nguyên đán năm 1988, ở tuổi 23, chàng thanh niên Dương Văn Dũng rời quê nhà ở Cẩm Lệ (Đà Nẵng) và bạn gái trong thôn để lên đường nhập ngũ tại Trung đoàn 83, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam. Ngày 12/3/1988 sau bữa cơm chiều vội vàng ở cảng Cam Ranh (Khánh Hòa), mọi người khẩn trương chuẩn bị hành lý, vật dụng tập kết lên tàu bắt đầu chiến dịch CQ-88 trực chỉ ra xây dựng đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa).
"Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đó là xây dựng và cắm cờ chủ quyền trên đảo. Ai cũng háo hức vì lần đầu được ra đảo xa. Trên tàu mọi người say sưa ca hát, có người say sóng nhưng vẫn đầy hứng khởi vì ra đảo sẽ được thỏa sức vẫy vùng cùng sóng biển", ông Dũng kể.
Sau gần một ngày rẽ sóng ra khơi, khoảng 5h chiều 13/3, hai tàu vận tải HQ 604 và 505 đến địa phận đảo Gạc Ma. Cảm giác được nhìn thấy những mỏm đá san hô, dải cát vàng giữa biển khiến ai cũng thích thú. Các thủy thủ dự định dựng ngôi nhà nhỏ xinh ngay trên mặt san hô.
Chỉ ít giờ sau khi có sự xuất hiện của hải quân Việt Nam, phía Trung Quốc bất ngờ cho tàu lớn ra uy hiếp. Tuy nhiên, theo ông Dũng, mọi người trong đoàn vẫn tiếp tục vận chuyển vật liệu lên đảo.
Cùng có mặt trên tàu HQ 604 năm đó, thương binh Trần Thiên Phụng (trú TP Đông Hà, Quảng Trị) mắt đỏ hoe kể về buổi tối 13/3/1988. "Giữa biển đêm, binh nhất Hoàng Ánh Đông (quê Quảng Bình) ngồi tựa vào cây đàn ghi ta, vừa đệm vừa hát bài Lạy mẹ con đi, ai nghe cũng rưng rưng vì nhớ nhà, nhớ mẹ. Có đứa bảo, đi đảo lần này vẫn chưa kịp chào từ biệt mẹ. Thấy như mình có lỗi với mẹ vậy!", ông Phụng kể.
Nỗi nhớ đồng đội đã mãi nằm lại đảo Gạc Ma luôn thường trực trong tâm trí cựu binh Đức. Ảnh: Nguyễn Đông
Nỗi nhớ đồng đội đã mãi nằm lại đảo Gạc Ma luôn thường trực trong tâm trí cựu binh Đức. Ảnh: Nguyễn Đông
3h sáng 14/3, tranh thủ nước rút, hải quân Việt Nam đã bơi vào đảo cắm cờ chủ quyền và vận chuyển vật liệu bằng chiếc ca nô nhỏ buộc dây từ tàu xuống. Theo ông Phụng, lúc này ca nô của Trung Quốc gây hấn bằng việc cắt những sợi dây dẫn vận chuyển vật liệu từ tàu HQ 604 vào đảo. Mọi người vẫn kiên trì bám đảo và được lệnh không nổ súng để giữ hòa khí. Tuy nhiên, đến 7h sáng, phía Trung Quốc bất ngờ bắn súng chỉ thiên.
Ông Phan Văn Đức (45 tuổi, trú phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng), là người trực tiếp vận chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma. Ánh mắt nhìn xa xăm về phía biển, ông nhớ lại, giữa loạt đạn rền vang, Trung úy Trần Văn Phương vẫn hiên ngang giữ ngọn cờ chủ quyền và hô vang: "Thà hi sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu mình tô thắm lá cờ truyền thống của hải quân Việt Nam anh hùng". Sau khi trung úy Phương nằm xuống, đồng đội Nguyễn Văn Lanh lao lên, khi gục ngã bàn tay anh vẫn bám chắc ngọn cờ.
Do không tương quan về lực lượng và vũ khí chiến đấu, tàu vận tải HQ 604 trúng đạn, từng chiến sĩ vẫn cố bám trụ trên con tàu chìm dần giữa biển. Ông Dũng, ông Phụng may mắn trụ trên một khúc gỗ nổi. Còn ông Đức khi bị trúng đạn ở vai cũng rướn sức ngụp lặn và bám vào một khúc gỗ cho đến khi được tàu cứu hộ của Hải quân Việt Nam vớt đưa vào đảo Sinh Tồn.
Trong lễ truy điệu những chiến sĩ đã hy sinh trên đảo tổ chức tại cảng Cam Ranh, lần đầu tiên trong đời ông Đức đã khóc. "Tôi khóc vì nỗi đau vừa mất đi những người đồng đội đêm trước còn ngồi tâm sự, kể chuyện người yêu mà nay đã mãi nằm lại nơi biển lạnh", cựu binh Đức kể.
Với binh nhất Dương Văn Dũng, những tháng ngày trở về từ cõi chết luôn là sự may mắn để ông giành tình cảm cho gia đình. Ảnh: Nguyễn Đông
Người lính Trường Sa năm xưa đang mưu sinh. Ảnh: Nguyễn Đông
Nhiều năm đã trôi qua, những lúc một mình đi dọc mé biển, ông Đức lại hướng ánh mắt đăm chiêu về phía biển xa. "Ngần ấy năm là quãng thời gian tôi bị ám ảnh bởi những đồng đội. Nhiều khi như người mất hồn đi lang thang dọc bãi biển Sơn Trà, có lẽ hồn tôi đã ở lại với Gạc Ma rồi!", người đàn ông gày gò nói.
Còn với ông Phụng, những vết thương trên thân thể luôn gợi ông nhớ về Trường Sa, về những đồng đội sát cánh cùng nhau, dù trong số họ, nhiều người đã mãi hòa máu mình vào lòng đảo Gạc Ma. Lạy mẹ con đi - bài hát cuối cùng của 64 đồng đội nằm xuống vẫn văng vẳng trong tim họ.
“Lạy mẹ con đi ôm ấp linh hồn Việt Nam
Lạy mẹ con đi noi theo chí hùng ngàn năm
Vắng con mẹ buồn là bởi ý thiên khơi nguồn
Nhưng còn gì hơn tình nước vẫn trong tình con…”
Ngày 14/3/1988, khi các tàu vận tải cùng với bộ đội Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao, thì các tàu chiến của đối phương lao đến ngang ngược và bất chấp luật pháp quốc tế, dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 ở đảo Gạc Ma, HQ-605 ở đảo Len Đao và HQ-505 ở đảo Cô Lin; cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma nhổ cờ Tổ quốc, nổ súng vào bộ đội gây cho chúng ta nhiều tổn thất...” - Theo Lịch sử vùng III Hải quân 1975 - 2005.
Nguyễn Đông

Thế giới sửng sốt


Thế giới sửng sốt về nhà sư Việt quỳ lạy suốt 1.800 km

Thứ năm, ngày 26 tháng bảy năm 2012 by Bà Đầm xòe

Nhà sư Thích Tâm Mẫn bắt đầu cuộc hành trình từ 2009 tại chùa Hoằng Pháp, TP Hồ Chí Minh tới non thiêng Yên Tử, cách Hà Nội 150 km. Nhà sư đi dưới hình thức, bước một bước lại quỳ rạp mình xuống đất bái một lần (nhất bộ nhất bái) với thời gian 10 tiêng đồng hồ /ngày trên chặng đường dài 1.800 km. Ông tin rằng, mỗi lần ông quỳ lạy như vậy là ông có thể chuộc lại những lỗi lầm mà con người đã phạm phái và cầu mong phật tổ cưu hộ đọ trì để dân Việt được quốc thái dân an. Vì tính lương thiện của hành động này nên đi đến đâu ông cũng được nhân dân địa phương chào đón, hành lễ cùng nhà sư.

Hiện tại ông đã đi qua địa phận Hà Nội và tiếp tục nhất bộ nhất bái trên hành trình về  non thiêng Yên Tử.  Nhà sư dự định sẽ viên tịch tại đây.

Những bức ảnh chụp về ông được lưu hành trên mạng đã gây sửng sốt trên toàn thế giới và lập tức được chọn là một trong những tấm ảnh ấn tượng nhất thế giới trong tuần qua.

BĐX xin giới thiệu một số hình ảnh về hành trinh nhất bộ nhất bái của nhà sư Thích Tâm Mẫn:

 

 


 

26 thg 7, 2012

Có phải là "báo ứng"


    Quê mình nay vẫn lưu truyền 1 câu chuyện có thật về một số LS từ thời chống Pháp. Nhưng người ta kg đi sâu vào khía cạnh chuyện LS mà lại nhấn mạnh tính ly kỳ, tâm linh của nó, để dạy con cháu!
    Trước khi vào câu chuyện xin sơ qua đặc điểm làng quê mình, vì nó gắn liền với cốt chuyện. Làng mình nói riêng, quê mình nói chung nằm sát đường quốc lộ số 5 (đường Hà Nội – Hải Phòng). Nên du kích quê mình hoạt động rất mạnh, đc mang tên ‘Du kích đường 5’ (vào Gúc biết liền), thường giật mìn phá đường tàu gây tổn thất nặng nề cho Pháp, nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Và du kích cũng là lực lượng tích cực nhất trong việc chống mê tín dị đoan, mà thể hiện cụ thể bằng việc hết sức ngu muội là phá đình, phá chùa.
    Chuyện rằng: Trong Đội du kích xã mình lúc bấy giờ, có 5 cụ (tuổi cha chú chúng mình) rất hăng hái, dũng cảm, lập nhiều chiến công. 1 lần đội du kích đến phá ngôi chùa nhỏ thuộc thôn mình, nằm sát 1 đầm nước khá rộng. Ngôi chùa mình kg biết có từ thời nào, nhưng các cụ bảo Chùa tuy nhỏ nhưng rất thiêng, trong thờ nhiều tượng nổi tiếng. Mình còn nhớ (ngày bé hay ra Chùa) có Quan Thế Âm Bồ Tát, Ngài Thích Ca Mầu Ni, Phật Bà trăm mắt nghìn tay v.v… Lực lượng phá Chùa thì đông, nhưng chỉ có 5 cụ kể trên là bê mỗi người 1 Bức tượng ra bờ đầm, trói mỗi Ngài vào 1 gốc cây gáo. Rồi kẻ thì vặn tay, người thì vặn cổ các Ngài cho đến gần tan nát, và cuối cùng đá văng xuống đầm nước.
    Tưởng thế là yên, nào ngờ chả mấy lâu sau, Pháp mở 1 trận càn vào làng mình. Du kích chống kg nổi, phải rút chạy và ẩn nấp lung tung trong thôn. Điều kỳ diệu xảy ra, trong trận càn ấy Pháp bắt được 5 người, mà lại chỉ là 5 cụ phá tượng kể trên, cũng đưa ra bờ đầm trước của chùa, bắn.
    Dân làng nghĩ mà kinh, cho là bị báo ứng. Vì dân làng hơi đâu mà báo với Pháp, và trong làng cũng kg có Việt gian.
    Cả 5 cụ du kích kể trên sau này cũng đc công nhận là LS vì thành tích đánh Pháp.